


Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, sau hơn 5 năm triển khai, Luật Bảo vệ môi trường đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý và bảo vệ các thành phần môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cũng cho thấy một số quy định chưa theo kịp yêu cầu phát triển, còn thiếu linh hoạt trong giải quyết thủ tục hành chính, phân cấp thẩm quyền, chuyển đổi số và thúc đẩy tái chế, tái sử dụng chất thải.
Việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa các chủ trương, định hướng mới của Đảng, trong đó có Nghị quyết Đại hội XIV và Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong tình hình mới. Qua đó, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Theo nội dung Tờ trình, dự thảo luật điều chỉnh nhiều quy định của luật hiện hành, tập trung vào đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy phép môi trường, đăng ký môi trường và quản lý chất thải. Việc phân loại dự án được đề xuất tinh gọn từ 4 nhóm xuống còn 3 nhóm, dựa trên mức độ nguy cơ gây tác động tiêu cực đến môi trường. Số nhóm tiêu chí môi trường cũng được thu gọn từ 3 xuống 2, tạo cơ sở xác định yêu cầu quản lý phù hợp hơn với tính chất của từng dự án.

Đáng chú ý, dự thảo hướng tới cắt giảm khoảng 90% đối tượng phải thực hiện ĐTM và cấp giấy phép môi trường, đồng thời chuyển một số trường hợp sang hình thức đăng ký môi trường. Hồ sơ, nội dung và trình tự thẩm định được đơn giản hóa; các thủ tục cấp mới, điều chỉnh giấy phép từng bước thực hiện trực tuyến. Thẩm quyền giải quyết cũng được phân định theo mức độ rủi ro và đặc thù của dự án, tăng trách nhiệm cho chính quyền địa phương trong quản lý môi trường trên địa bàn.
Cùng với những thay đổi này, dự thảo tiếp tục rà soát thủ tục hành chính theo hướng giảm đầu việc và thời gian xử lý. Theo Tờ trình, phương án cải cách trước đó đã bãi bỏ 9 thủ tục, giúp giảm 52,5% thời gian và 52,3% chi phí tuân thủ. Dự thảo lần này tiếp tục đề xuất cắt giảm 5 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 3 thủ tục, qua đó giảm gánh nặng hồ sơ cho người dân và doanh nghiệp.
Thay vì yêu cầu các dự án thực hiện những quy trình tương tự nhau bất kể mức độ tác động, cách tiếp cận mới hướng đến tập trung nguồn lực quản lý vào những cơ sở có nguy cơ ô nhiễm cao. Tuy nhiên, hiệu quả của cải cách sẽ phụ thuộc vào khả năng nhận diện đúng rủi ro, chất lượng dữ liệu và trách nhiệm giám sát sau cấp phép.

Theo cơ quan thẩm tra, việc mở rộng các trường hợp không phải thực hiện ĐTM cần được xem xét thận trọng, nhất là khi liên quan đến những yếu tố nhạy cảm như khu dân cư tập trung, nguồn nước phục vụ sinh hoạt và đặc điểm, quy mô nguồn thải có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Những dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp có nguồn thải lớn, chất thải độc hại hoặc hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng không nên mặc nhiên được đưa vào diện miễn ĐTM.
Ủy ban đề nghị duy trì cơ chế phân loại dự án theo rủi ro một cách chính xác, định lượng đầy đủ các yếu tố nhạy cảm và tăng cường hậu kiểm. Cơ quan có thẩm quyền cần công bố định kỳ khả năng chịu tải của các lưu vực sông, tạo cơ sở minh bạch cho việc xem xét, cấp phép các hoạt động có phát sinh nước thải.

Đối với giấy phép môi trường, cơ quan thẩm tra đề xuất chuyển cách tiếp cận từ cấp phép xả thải đơn thuần sang cấp phép vận hành môi trường. Theo đó, giấy phép cần xác định cụ thể nghĩa vụ của cơ sở, điều kiện phát thải, yêu cầu vận hành công trình bảo vệ môi trường, quan trắc tự động và quản lý rủi ro.
Ủy ban cũng kiến nghị thực hiện toàn bộ thủ tục trên môi trường điện tử, không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những dữ liệu đã được xác thực trên hệ thống quốc gia. Như vậy, cải cách không chỉ dừng ở việc giảm giấy tờ mà còn phải chuyển trọng tâm từ kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ sang phòng ngừa, phát hiện và xử lý nguy cơ gây ô nhiễm.

Song song với cải cách thủ tục, dự thảo luật đặt trọng tâm vào việc hiện đại hóa phương thức quản trị môi trường thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Doanh nghiệp được yêu cầu tạo lập, cập nhật dữ liệu điện tử về phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải; trong đó có việc sử dụng chứng từ điện tử nhằm tăng tính minh bạch, khả năng truy xuất và hiệu quả giám sát.

Dự thảo cũng định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu theo hướng thống nhất, tích hợp, liên thông. Thông tin số được khai thác để phân tích nguy cơ, dự báo diễn biến ô nhiễm, phát cảnh báo sớm và hỗ trợ cơ quan quản lý lựa chọn đối tượng cần kiểm tra. Cách làm này được kỳ vọng giảm sự phụ thuộc vào hoạt động kiểm tra thủ công, đồng thời nâng cao hiệu quả phát hiện vi phạm tại các cơ sở có nguy cơ cao.

Tuy nhiên, số hóa chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu phản ánh đúng tình trạng môi trường thực tế. Từ thực tiễn xuất hiện những hành vi can thiệp phần mềm làm sai lệch số liệu quan trắc, cơ quan thẩm tra đề nghị hoàn thiện quy định quản lý toàn bộ chuỗi dữ liệu, từ thiết bị đo đến hệ thống tiếp nhận. Mỗi dữ liệu cần có mã định danh, dấu thời gian và nhật ký điện tử; mọi thao tác chỉnh sửa phải được lưu vết để bảo đảm khả năng truy xuất, giá trị pháp lý và căn cứ xử lý vi phạm.
Đối với lĩnh vực chất thải, dự thảo hướng đến giảm lượng chất thải phải xử lý cuối cùng, mở rộng khả năng tái chế và tái sử dụng nguyên liệu thu hồi. Các quy định về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân được bổ sung theo hướng xác lập nguyên tắc thực hiện và giao Chính phủ quy định lộ trình. Việc sử dụng vật liệu tái chế, chất thải làm nguyên liệu hoặc nhiên liệu thay thế cũng được khuyến khích nhằm giảm khai thác tài nguyên nguyên sinh và thúc đẩy mô hình sản xuất tuần hoàn.


Một nội dung đáng chú ý khác là điều chỉnh cơ chế thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đối với sản phẩm, bao bì sau sử dụng. Dự thảo không tiếp tục quy định hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam như phương thức thực hiện trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải, mà giao Chính phủ xây dựng các hình thức phù hợp hơn, hướng đến trách nhiệm thu gom và tái chế thực chất.
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho rằng cần làm rõ lộ trình triển khai các phương thức tái chế mới, tránh tạo áp lực cho doanh nghiệp trong bối cảnh hạ tầng thu gom, xử lý và tái chế chưa đồng bộ. Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế cho phép bù trừ nghĩa vụ giữa các sản phẩm cùng nhóm khi phù hợp, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động thực hiện trách nhiệm mà vẫn bảo đảm mục tiêu môi trường.


Về kiểm soát chất lượng không khí và môi trường nước, dự thảo bổ sung các giải pháp quản lý theo khả năng chịu tải, tăng cường dự báo chất lượng môi trường và nghiên cứu thiết lập vùng phát thải thấp. Các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu cũng được hoàn thiện theo hướng tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch phát thải, thực hiện mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định và phát triển thị trường các-bon trong nước, bao gồm quản lý tín chỉ và sàn giao dịch các-bon.
Dự thảo đề xuất chuyển chu kỳ kiểm kê khí nhà kính từ hai năm một lần sang hằng năm. Tuy nhiên, theo cơ quan thẩm tra, cần đánh giá kỹ tính khả thi và chi phí phát sinh trước khi áp dụng đồng loạt. Một phương án được đề xuất là yêu cầu các cơ sở phát thải lớn hoặc có biến động đáng kể thực hiện kiểm kê hằng năm, trong khi cơ sở có công nghệ ổn định được duy trì chu kỳ hai năm và phải báo cáo khi xuất hiện thay đổi đáng kể. Cách tiếp cận này giúp tập trung nguồn lực vào những nguồn phát thải quan trọng, đồng thời hạn chế chi phí không cần thiết cho nhóm rủi ro thấp.

Ngoài ra, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ đầu mối quản lý, tỷ lệ tín chỉ đóng góp cho mục tiêu quốc gia và quyền lợi của cộng đồng tham gia bảo vệ rừng trong cơ chế trao đổi tín chỉ các-bon quốc tế. Việc hoàn thiện các quy định này cần gắn với tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và lợi ích của các bên liên quan.

Để tạo dư địa cho những mô hình phát triển mới, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn. Đồng thời, cơ quan thẩm tra kiến nghị xem xét bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, tiếp tục rà soát tính thống nhất với các luật liên quan và hoàn thiện quy định chuyển tiếp.

Theo cơ quan thẩm tra, cơ quan chủ trì soạn thảo cần chịu trách nhiệm về tính khả thi, minh bạch của các chính sách mới, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý hoặc thủ tục gây ách tắc trong quá trình thực hiện. Đây là điều kiện quan trọng để các mục tiêu cải cách được chuyển hóa thành hiệu quả thực tế.

Với định hướng giảm thủ tục gắn với quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro, việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường không chỉ nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực giám sát và trách nhiệm tuân thủ. Cân bằng giữa đơn giản hóa quy trình và kiểm soát chặt nguồn thải sẽ là yếu tố quyết định để chính sách vừa hỗ trợ tăng trưởng xanh, vừa bảo đảm chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Trần Huyền