
Từ vùng đất nước lợ đến một cách làm mới
Ông Bùi Ngọc Tam sinh năm 1973, ở thôn Văn Sơn, xã Quảng Ngọc, tỉnh Thanh Hóa. Tuổi thơ và những năm tháng trưởng thành của ông gắn với vùng quê nằm bên hai dòng sông Hoàng và sông Yên, nơi những dòng nước mang theo phù sa, góp phần tạo nên một vùng đất nước lợ giàu sản vật. Cây cói bén rễ, trải rộng khoảng 400 ha, cùng những làng nghề đã hình thành và tồn tại qua nhiều thế hệ. Cáy, rạm, tôm, tép theo con nước về; những sợi cói qua đôi bàn tay người thợ để thành chiếu, thành võng. Lớn lên cùng vùng đất ấy, ông Tam hiểu rằng những gì tưởng bình thường lại chính là vốn quý của quê mình.
Từ điều kiện tự nhiên và đời sống ấy, năm làng nghề truyền thống đã trở thành một phần của diện mạo quê hương. Nổi bật là nghề cói, với những tấm chiếu, chiếc võng được đan từ những sợi cói mộc mạc, gắn với đời sống người dân qua bao thế hệ. Cùng với cây cói là những sản vật của vùng nước lợ như cáy, rạm, tôm, tép, gắn với mùa vụ, bữa cơm và sinh kế của bao gia đình.
Ông Tam bảo, mình sinh ra ở đây nên hiểu những thứ ấy không phải tự nhiên mà có. Cây cói, con cáy, con rạm hay nghề đan chiếu đều là kết quả của cách người dân thích nghi với đất, với nước qua nhiều thế hệ. Vì thế, nếu phát triển quê hương mà tách những giá trị ấy ra thì chẳng khác nào bỏ đi phần hồn vốn có của vùng đất.
“Đất nước mình vốn gắn với nền văn minh lúa nước. Người dân sống với ruộng đồng, sông nước, cây con từ bao đời. Vì thế, phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp không phải là đưa một thứ gì xa lạ về quê mình, mà là làm cho những gì vốn có ở đây được nhìn nhận đúng giá trị”, ông Tam chia sẻ.
Năm 2003, ông bắt đầu nhận thầu khoảng 1,6 ha đất để sản xuất, sau đó cùng gia đình dồn đổi, tích tụ được khoảng 3,8 ha. Từ những thửa đất ấy, ông tập trung nuôi trồng thủy sản, đồng thời tìm hiểu những mô hình sinh thái để tìm cách áp dụng phù hợp với quê nhà.

Càng làm, ông càng nhận ra đất quê không chỉ có giá trị ở sản lượng. Nếu chỉ nuôi một loại thủy sản, trồng một loại cây rồi bán nguyên liệu, giá trị tạo ra sẽ dừng lại ở đó. Nhưng nếu biết kết hợp cây trồng, mặt nước, thủy sản, chế biến và trải nghiệm thì một thửa đất có thể tạo ra nhiều giá trị hơn.
Trên khu sản xuất của mình, ông trồng thêm dừa, xà cừ, măng Mỹ; kết hợp cây xanh với mặt nước và khu nuôi trồng. Cá, tôm, tép được nuôi, khai thác; những sản vật bản địa được đưa vào chế biến. Cách làm ông lựa chọn là thuận theo điều kiện tự nhiên thay vì cố biến vùng đất thành một mô hình xa lạ với môi trường vốn có.
Ông không muốn nơi mình làm chỉ là một trang trại để sản xuất rồi bán hàng. Ông hình dung về một không gian mà người đến có thể nhìn thấy quá trình tạo ra sản phẩm, từ đất, nước, cây cối đến con vật; từ nguyên liệu đến món ăn; từ sản vật đến sản phẩm hàng hóa.
“Nếu khách chỉ mua một chai mắm hay một gói cáy thì họ biết sản phẩm. Nhưng nếu họ được về đây, nhìn thấy vùng đất, biết con cáy sống ở đâu, biết người dân làm mắm thế nào, rồi xem nghề cói, xem người quê sản xuất ra sao thì họ sẽ hiểu hơn về sản phẩm. Khi ấy, mình không chỉ bán hàng mà đang kể câu chuyện của quê hương”, ông Tam nói.

Năm 2020, ông cùng một số người chung chí hướng thành lập HTX dịch vụ nông nghiệp Quảng Phúc, mở thêm hướng liên kết sản xuất và chế biến. Từ nguồn nguyên liệu địa phương, những sản phẩm như tôm sấy, tép rạm xé, cáy xé được phát triển. Mắm cáy, rạm say, cáy say cùng các sản phẩm thủy sản chế biến cũng dần được hoàn thiện để đưa ra thị trường. Đến nay, HTX đã có 4 sản phẩm OCOP.
Mỗi sản phẩm đều mang theo một phần ký ức của vùng quê. Một chai mắm cáy gợi về vùng nước lợ, sản phẩm từ rạm, tép gắn với những mùa con nước, còn một tấm chiếu cói chứa trong đó cả vùng nguyên liệu và những đôi tay đã bền bỉ giữ nghề qua nhiều thế hệ.
Cú cược 3,5 tỷ đồng và những ngày làm lại sau bão
Con đường giữ sản vật quê bằng cách làm kinh tế ấy không hề bằng phẳng. Có thời điểm, ông Tam vay ngân hàng 3,5 tỷ đồng để đầu tư cho mô hình. Với một người làm nông nghiệp, khoản vốn ấy đồng nghĩa với sức ép rất lớn, bởi tiền phải bỏ ra trước trong khi hiệu quả cần thời gian mới có thể nhìn thấy.
Vợ con từng khuyên ông dừng lại. Họ lo một mô hình mới, vốn lớn, thời gian thu hồi dài sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình. Nhưng ông vẫn quyết định bước tiếp.

“Tôi cũng áp lực chứ. Gia đình lo là đúng, vì 3,5 tỷ đồng đối với người làm nông nghiệp không phải chuyện nhỏ. Nhưng tôi nghĩ nếu mình cứ làm như cũ thì quê mình vẫn chỉ bán nguyên liệu. Mình có đất, có nước, có sản vật, có nghề, nếu biết kết nối lại thì giá trị sẽ khác. Tôi muốn thử làm từ chính những thứ quê mình đang có”, ông Tam kể.
Đằng sau quyết định ấy là một cách nhìn khác về nông nghiệp. Người nông dân không thể chỉ đứng ở đầu chuỗi, sản xuất nguyên liệu rồi chờ người khác quyết định giá trị của sản phẩm. Muốn giữ được sản vật, phải làm cho sản vật có giá trị; muốn giữ nghề, phải để nghề có thể đem lại thu nhập; muốn giữ quê, phải tạo được sinh kế từ chính những gì quê hương đang có.
Nhưng khi mô hình đang từng bước gây dựng, thiên tai lại mang đến một thử thách khắc nghiệt. Năm 2025, sau mưa bão, cơ sở của ông gần như tan hoang, thiệt hại hơn 1 tỷ đồng. Những hạng mục vừa đầu tư, những công sức gây dựng trong thời gian dài bị đảo lộn chỉ sau một đợt thiên tai.

Đó là lúc khoản vay, những lời can ngăn của gia đình và những gì đã mất có thể khiến một người nản lòng. Nhưng ông Tam lại chọn cách bắt đầu lại. Cái gì còn dùng được thì sửa, cái gì hỏng thì làm lại, từng phần của cơ sở được khắc phục.
“Sau bão nhìn lại cũng xót lắm. Bao nhiêu thứ mình làm ra, đầu tư vào rồi chỉ một trận bão là tan hoang. Thiệt hại lớn, nhưng mình bỏ thì cũng không biết làm gì. Đây là đất quê mình, sản vật quê mình. Mình làm lại được thì vẫn phải làm”, ông nói.
Có lẽ chính những mất mát ấy khiến ông càng thấm thía hơn điều mình đang theo đuổi. Nông nghiệp thuận tự nhiên không phải là một cách làm dễ dàng. Đó là quá trình kiên nhẫn với đất, với nước, với mùa vụ và với cả những rủi ro mà người làm nông luôn phải đối mặt.
Nếu chỉ nhìn vào sản lượng, nhiều giá trị của vùng quê sẽ dễ bị bỏ lại phía sau. Cây cói còn mang theo câu chuyện về một vùng nguyên liệu, nghề đan cói lưu giữ đôi tay người thợ; con cáy, con rạm, tôm, tép gắn với mùa nước và cách người dân mưu sinh. Khi những sản vật ấy được chế biến, xây dựng thành sản phẩm và kết nối với trải nghiệm, giá trị của vùng đất cũng được mở rộng theo.

Bởi vậy, ông Tam muốn mô hình của mình mở rộng sự tham gia của người dân. Người có đất góp đất sản xuất, người giữ nghề tiếp tục làm nghề, người có sản vật tham gia chế biến, người làm dịch vụ đón khách. Mỗi người góp một phần, cùng tạo thành một chuỗi giá trị để sản vật quê nhà có thêm đầu ra, làng nghề có thêm sức sống và du lịch nông nghiệp trở thành sinh kế của cộng đồng.
Ông Tam không nói về những điều quá lớn. Ông chỉ nhắc nhiều đến những thứ rất gần: ruộng đất, dòng sông, cây cói, con cáy, nghề đan chiếu và những sản vật đã đi cùng người dân qua nhiều thế hệ.
“Tôi không nghĩ mình làm được điều gì quá lớn. Tôi chỉ nghĩ quê mình có gì thì cố giữ lấy, rồi tìm cách làm cho nó có giá trị hơn. Sau này nếu khách về đây được đi giữa ruộng đồng, được nhìn thấy cây cói, xem người dân làm chiếu, được ăn con cáy quê mình, hiểu được vùng đất nước lợ và hai dòng sông đã tạo nên cuộc sống nơi đây, thì tôi thấy như thế là đáng”, ông Tam nói.
Ngoài kia, sông Hoàng và sông Yên vẫn lặng lẽ chảy qua vùng đất đã nuôi lớn bao thế hệ. Cây cói vẫn xanh theo mùa, những đôi tay người thợ vẫn miệt mài với sợi cói, còn cáy, rạm, tôm, tép vẫn theo con nước trở về.
Giữa hai dòng sông, ông Tam đang cố giữ lại những điều tưởng bình thường của quê hương bằng một cách làm mới. Từ đất, nước, cây cói và những sản vật quê nhà, ông muốn dựng lên không chỉ một mô hình làm ăn, mà một cách để người dân có thể sống được từ chính những giá trị đã nuôi mình lớn lên.