
Xây nền hạ tầng dữ liệu cho kinh tế số
Kinh tế số đang chuyển nhanh sang giai đoạn tăng trưởng dựa trên dữ liệu, năng lực điện toán và trí tuệ nhân tạo (AI). Với TP.HCM, xây dựng hạ tầng số đồng bộ là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ và mở rộng các động lực tăng trưởng mới.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, quy mô kinh tế số Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 72,1 tỷ USD, tương đương 14,02% GDP, trong đó kinh tế số lõi đóng góp 8,42% GDP.
Tại Hội nghị Tăng trưởng về Điện toán đám mây và Trí tuệ nhân tạo ngày 14/8, bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM, cho biết thành phố đặt mục tiêu đưa tỷ trọng kinh tế số lên 30% GRDP trong năm 2026 và 40% vào năm 2030.
Để hỗ trợ mục tiêu này, TP.HCM định hướng hình thành sàn giao dịch dữ liệu, xây dựng ít nhất 2 trung tâm dữ liệu và 2 khu công nghệ số tập trung. Thành phố cũng thúc đẩy ứng dụng các nền tảng số trong công nghiệp, logistics, bán lẻ và những lĩnh vực kinh tế chủ lực.
Trong cấu trúc đó, dữ liệu là yếu tố quyết định khả năng khai thác AI. Cũng tại hội nghị, ông Nguyễn Minh Liêm, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành Công ty cổ phần Công nghệ BYTE, cho rằng dữ liệu phân mảnh, thiếu chính xác hoặc không được cập nhật và khoảng cách giữa phân tích với thực thi đang là những điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp khi ứng dụng AI.
Theo ông Liêm, dữ liệu khách hàng cần được chuẩn hóa, thống nhất và cập nhật theo thời gian thực, đồng thời bảo đảm quyền riêng tư và khả năng khai thác. Dữ liệu chỉ thực sự tạo giá trị khi được kết nối với các quyết định kinh doanh và có khả năng chuyển hóa thành doanh thu, tiết giảm chi phí hoặc nâng cao hiệu quả vận hành.
Theo số liệu ông Liêm chia sẻ tại hội nghị, làm sạch và tập trung dữ liệu có thể giúp tăng 35% hiệu suất chi tiêu quảng cáo (ROAS) sau 12 tháng, giảm khoảng 40% chi phí trên mỗi đơn hàng (CPO) ở nhóm khách hàng hiện hữu và tăng gấp 3 lần doanh thu bán chéo.
Như vậy, bài toán của kinh tế số không dừng ở mở rộng hạ tầng công nghệ mà còn nằm ở khả năng hình thành hệ sinh thái dữ liệu có chất lượng, được kết nối và khai thác hiệu quả. Đây cũng là cơ sở để các khoản đầu tư vào AI tạo ra giá trị kinh tế thực tế thay vì dừng ở mức thử nghiệm công nghệ.
AI, cloud đặt ra bài toán hiệu quả đầu tư
Cùng với nhu cầu dữ liệu, chi phí hạ tầng đang trở thành một trong những rào cản lớn khi doanh nghiệp mở rộng ứng dụng AI.
Ông Vũ Hữu Sơn, Trưởng bộ phận Tư vấn Giải pháp tại Công ty cổ phần GreenNode chia sẻ tại Hội nghị trên, thị trường hạ tầng AI toàn cầu được dự báo tăng từ 158 tỷ USD lên 419 tỷ USD vào năm 2030.

Tuy nhiên, tốc độ phát triển công nghệ cũng làm gia tăng áp lực đầu tư. Một tủ máy chủ AI có thể có giá khoảng 3,9 triệu USD, cao gấp 8 lần tủ thông thường, trong khi vòng đời công nghệ có nguy cơ rút ngắn còn 2-3 năm. Nhu cầu điện cho AI toàn cầu cũng được dự báo tăng từ 132 GW lên 290 GW vào năm 2030.
Theo ông Sơn, xu hướng AI FinOps đang thúc đẩy doanh nghiệp chuyển từ tư duy sở hữu toàn bộ hạ tầng sang sử dụng dịch vụ linh hoạt, trả chi phí theo nhu cầu xử lý thực tế. Cách tiếp cận này giúp giảm áp lực vốn đầu tư và hạn chế rủi ro khi công nghệ phần cứng thay đổi nhanh.
Bên cạnh đó, AI tại biên (edge AI) cho phép đưa một phần năng lực xử lý đến gần nơi dữ liệu được tạo ra, qua đó giảm áp lực lên trung tâm dữ liệu, tối ưu hiệu suất năng lượng và tăng khả năng kiểm soát dữ liệu. Quy mô thị trường edge AI được dự báo đạt 56,8 tỷ USD vào năm 2030.
Điện toán đám mây cũng đang trở thành lớp hạ tầng quan trọng để doanh nghiệp mở rộng AI mà không phải đầu tư toàn bộ hệ thống vật lý. Tại hội nghị, ông Bùi Song Toàn, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển dịch vụ Nền tảng Cloud thuộc FPT Smart Cloud, cho biết thị trường điện toán đám mây Việt Nam được dự báo đạt 6,98 tỷ USD vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,94%/năm.
GenAI đang tạo thêm động lực cho cloud nhưng đồng thời làm gia tăng yêu cầu về an toàn thông tin. Theo các số liệu ông Toàn dẫn tại hội nghị, khoảng 75% dòng code mới tại Google hiện do AI tạo ra và tỷ lệ này có thể tiến tới 95% trong 5 năm tới. Trong khi đó, tỷ lệ mã nguồn do AI tạo ra tiềm ẩn lỗ hổng bảo mật trong một số ngôn ngữ phổ biến dao động từ 38% đến hơn 70%.
Các luồng kết nối nội bộ - khu vực cũng chiếm khoảng 70-80% tổng lưu lượng hệ thống nhưng chưa được doanh nghiệp chú trọng tương xứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp tăng cường giám sát tự động, kiểm soát truy cập và quản trị rủi ro đa tầng.
Nhìn chung, với TP.HCM, việc phát triển sàn giao dịch dữ liệu, trung tâm dữ liệu và khu công nghệ số tập trung sẽ tạo thêm nền tảng cho doanh nghiệp tiếp cận hạ tầng số, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng biến dữ liệu và công nghệ thành năng suất, doanh thu và giá trị kinh tế thực chất.