Giữa dòng sông, những lồng cá ngạnh đang trở thành điểm nhấn của một mô hình khuyến nông được triển khai tại xã Trung Kênh, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một trong hai điểm thực hiện dự án “Xây dựng mô hình nuôi cá ngạnh trong lồng bè trên sông bảo đảm an toàn thực phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng”.

Dự án được triển khai trong giai đoạn 2025-2027 tại Bắc Ninh, Hải Phòng và Hưng Yên, với tổng kinh phí hơn 3,58 tỷ đồng. Riêng năm 2026, dự án xây dựng hai mô hình với tổng quy mô 900 m³ lồng, trong đó Bắc Ninh 450 m³ và Hưng Yên 450 m³.
Không chỉ nuôi cá, mà xây dựng cả quy trình
Tại Bắc Ninh, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh chủ trì thực hiện mô hình tại hộ ông Nguyễn Văn Thoan với quy mô 450 m³ lồng, bắt đầu từ tháng 3/2026 và dự kiến kéo dài đến tháng 12/2026.
Điểm đáng chú ý của mô hình là hộ dân không chỉ được hỗ trợ con giống. Tổng cộng 15.750 con cá ngạnh giống được đưa vào mô hình, cùng thức ăn công nghiệp, thuốc và hóa chất theo quy định. Hộ nuôi đồng thời được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, quản lý môi trường và phòng, trị bệnh trong suốt quá trình triển khai.
Cách làm này cho thấy mục tiêu của dự án không đơn thuần là tạo ra một lứa cá đạt trọng lượng thương phẩm. Quan trọng hơn, mô hình đang thử nghiệm một quy trình nuôi có kiểm soát để người dân có thể áp dụng lâu dài.
Con giống được lựa chọn có kích thước 16-18 cm, tương đương 40-50 gram/con, đồng đều, khỏe mạnh, không dị hình, có nguồn gốc rõ ràng và không dịch bệnh. Thức ăn công nghiệp sử dụng trong mô hình có hàm lượng protein 40%; các loại thuốc, hóa chất như TCCA, Bcomplex và Vitamin C được cung cấp theo quy định về chất lượng.
Đáng nói, quá trình nuôi không được giao hoàn toàn cho hộ dân tự xoay xở, mà được phân công hai cán bộ chỉ đạo kỹ thuật có trình độ đại học và trên 5 năm kinh nghiệm theo dõi mô hình. Công việc của cán bộ kỹ thuật kéo dài từ chuẩn bị lồng, lựa chọn giống, chăm sóc, quản lý môi trường, phòng trị bệnh đến thu hoạch, ghi nhật ký và hạch toán hiệu quả kinh tế.
Đây cũng chính là phần việc làm nên vai trò của khuyến nông trong mô hình này: không chỉ đưa giống mới về cho nông dân, mà đi cùng người nuôi trong suốt quá trình sản xuất.

Ông Nguyễn Ngọc Ninh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh nhấn mạnh: “Điểm chúng tôi quan tâm không chỉ là cá sinh trưởng tốt, mà phải hình thành được quy trình nuôi bảo đảm an toàn thực phẩm, phù hợp điều kiện thực tế của người dân và có khả năng nhân rộng. Khi mô hình đạt hiệu quả cả về kỹ thuật lẫn kinh tế, người dân mới có cơ sở để mạnh dạn áp dụng.”
Đến ngày 10/8, sau gần 4 tháng thả nuôi, cá ngạnh tại mô hình ở Bắc Ninh có tỷ lệ sống khoảng 98%, trọng lượng bình quân 300-320 gram/con. Hộ nuôi cơ bản tuân thủ quy trình kỹ thuật, thực hiện tốt việc chăm sóc, quản lý môi trường và phòng, trị bệnh; chưa phát hiện việc sử dụng chất cấm trong quá trình nuôi.
Bài toán phía sau những lồng cá
Nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ sống và trọng lượng cá, mô hình có thể được xem là một kết quả kỹ thuật khả quan. Nhưng với sản xuất hàng hóa, đó mới chỉ là một nửa câu chuyện, và phần còn lại quan trọng không kém chính là ở đầu ra.
Thực tế, không ít mô hình nông nghiệp có thể sản xuất tốt nhưng gặp khó khi bước sang khâu tiêu thụ. Vì vậy, dự án cá ngạnh lần này đặt việc liên kết thị trường song song với xây dựng mô hình nuôi.

Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh làm đầu mối kết nối với Hợp tác xã Dịch vụ Nuôi trồng thủy sản thôn Phú Thọ, xã Lâm Thao để thu mua sản phẩm. Cá được định hướng cung cấp cho bếp ăn tập thể của các công ty, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, thành phố Hà Nội và một số chợ đầu mối trong vùng.
Như vậy, chuỗi liên kết bước đầu được hình thành từ cung ứng giống, vật tư đến thu mua, tiêu thụ. Vai trò của Trung tâm Khuyến nông ở đây không dừng ở việc hướng dẫn kỹ thuật mà còn làm cầu nối giữa người sản xuất và thị trường.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. Bởi một mô hình chỉ thực sự có sức sống khi người nuôi biết mình sản xuất cho ai, sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn nào và bán theo kênh nào.
Chương trình khuyến nông Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030 cũng xác định phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước sông, hồ chứa và phát triển nuôi thủy đặc sản trong lồng trên sông, hồ chứa gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Vì thế, mô hình cá ngạnh ở Trung Kênh có thể được nhìn như một bước cụ thể hóa hướng đi này. Để chuẩn bị cho khả năng nhân rộng, dự án đã tổ chức hai lớp tập huấn tại Hưng Yên và Bắc Ninh với tổng cộng 60 học viên. Các lớp dành cho hộ tham gia mô hình và những hộ nuôi thủy sản tiêu biểu tại địa phương. Sau tập huấn, người dân được hướng dẫn vận dụng kiến thức vào sản xuất tại hộ gia đình.
Cùng với đó, các hộ tham gia đều có cam kết nuôi bảo đảm an toàn thực phẩm, được địa phương xác nhận. Quá trình sử dụng giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và quản lý lồng nuôi được kiểm soát; chưa phát hiện chất cấm trong quá trình nuôi.
Nhìn rộng hơn, đây là điều kiện cần nếu sản phẩm hướng tới những thị trường như bếp ăn tập thể, doanh nghiệp, nhà máy và các kênh tiêu thụ lớn. Người mua ngày càng quan tâm không chỉ đến giá mà còn đến nguồn gốc, chất lượng và mức độ an toàn của thực phẩm.
“Khuyến nông phải giúp người dân thay đổi cách làm, chứ không chỉ hỗ trợ một phần vật tư. Với mô hình này, chúng tôi muốn người dân nắm được kỹ thuật, kiểm soát tốt môi trường nuôi, bảo đảm an toàn thực phẩm và quan trọng là từng bước hình thành liên kết tiêu thụ. Đó mới là cơ sở để đánh giá khả năng nhân rộng.” ông Nguyễn Ngọc Ninh chia sẻ.

Từ góc độ quản lý dự án, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Hưng Yên, UBND xã Trung Kênh và UBND phường Sơn Nam trong lựa chọn địa điểm, hộ tham gia, kiểm tra tiến độ và giám sát mô hình. Theo báo cáo, dự án đang được thực hiện đúng tiến độ; trước khi thả giống, các hộ đã được tập huấn, hướng dẫn và chuẩn bị lồng nuôi theo yêu cầu.
Đến thời điểm ngày 10/8, dự án chưa ghi nhận hạn chế, tồn tại cần khắc phục. Tuy nhiên, đây vẫn là giai đoạn giữa vụ nuôi. Hiệu quả đầy đủ của mô hình chỉ có thể được đánh giá sau khi cá đạt kích cỡ thương phẩm, thu hoạch và tính toán cụ thể chi phí, doanh thu, lợi nhuận.
Đó cũng là phép thử quan trọng nhất đối với bất kỳ mô hình khuyến nông nào. Cá sinh trưởng tốt là điều kiện cần; nhưng nếu chi phí cao, đầu ra không ổn định hoặc quy trình quá khó để người dân áp dụng thì khả năng nhân rộng sẽ bị hạn chế.
Ngược lại, nếu mô hình hoàn thành tốt cả ba khâu - kỹ thuật, an toàn thực phẩm và thị trường - cá ngạnh có thể mở thêm một hướng sản xuất cho những khu vực có điều kiện nuôi lồng trên sông.
Với những lồng cá đang lớn dần trên dòng sông ở Trung Kênh, điều đáng chờ đợi không chỉ là một vụ cá đạt năng suất. Điều quan trọng hơn là sau mô hình này, người dân có thêm một lựa chọn sản xuất, có quy trình kỹ thuật rõ ràng và quan trọng nhất là có thị trường phía sau.
Nếu làm được điều đó, những chiếc lồng cá trên sông sẽ không còn chỉ là một mô hình trình diễn của ngành khuyến nông, mà có thể trở thành mắt xích trong một cách làm mới của thủy sản Bắc Ninh: sản xuất an toàn, có liên kết và hướng tới giá trị bền vững.
Ngày 14/8 vừa qua, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã tổ chức đoàn kiểm tra, đánh giá dự án khuyến nông Trung ương năm 2026 tại tỉnh Bắc Ninh. Đoàn kiểm tra thực tế mô hình “Xây dựng mô hình nuôi cá ngạnh trong lồng bè trên sông bảo đảm an toàn thực phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng” tại thôn Cáp Hạ, xã Trung Kênh.
Đoàn kiểm tra Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tập trung đánh giá việc tổ chức thực hiện, tiến độ, kết quả dự án và kiểm tra thực tế mô hình. Sau kiểm tra hiện trường, đoàn họp thông qua biên bản kiểm tra, đánh giá dự án khuyến nông Trung ương thực hiện tại Bắc Ninh.
Việc triển khai mô hình nuôi cá ngạnh trong lồng bè trên sông góp phần chuyển giao quy trình nuôi theo hướng bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời mở rộng liên kết sản xuất - tiêu thụ, tạo thêm hướng phát triển thủy sản hiệu quả cho người dân.
Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh kiến nghị Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tiếp tục quan tâm, hỗ trợ và cấp kinh phí lần 2 để đơn vị triển khai dự án đạt kết quả đề ra.