Quy hoạch lâm nghiệp hướng tới phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2018/QĐ-TTg ngày 21/10/2026, phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Giai đoạn 2026-2030, tổng nguồn vốn thực hiện quy hoạch hơn 130 nghìn tỷ đồng, tập trung vào bảo vệ, phát triển rừng, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao giá trị sản xuất, chế biến lâm sản.

Hoàn thiện cơ chế, huy động nguồn lực phát triển lâm nghiệp bền vững

Theo Quyết định số 2018/QĐ-TTg, mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, hiệu quả, đa giá trị và phát triển bền vững; nâng cao chất lượng rừng, khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Quy hoạch xác định tổng diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 là 15.550,53 nghìn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng đạt 14.074,89 nghìn ha. Theo phân loại, diện tích đất quy hoạch rừng đặc dụng là 2.484,78 nghìn ha, rừng phòng hộ 5.084,57 nghìn ha và rừng sản xuất 7.981,18 nghìn ha.

Đến năm 2030, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc được duy trì ở mức 42%. Giai đoạn 2026-2030, diện tích trồng rừng dự kiến đạt 1.250-1.500 nghìn ha, tương đương bình quân 250-300 nghìn ha mỗi năm; số cây trồng phân tán đạt 300-330 triệu cây trong cả giai đoạn. Diện tích rừng trồng gỗ lớn phấn đấu đạt 1.200 nghìn ha vào năm 2030, đồng thời diện tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng dự kiến đạt 500 nghìn ha.

Quy hoạch cũng đặt mục tiêu bảo vệ rừng bình quân 13.524 nghìn ha mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững phấn đấu đạt trên 1 triệu ha vào năm 2030.

thiet-ke-chua-co-ten-33-1792781990.png
Quy hoạch xác định tổng diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 là 15.550,53 nghìn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng đạt 14.074,89 nghìn ha. Ảnh- Hiền Mai

Để thực hiện các mục tiêu trên, quy hoạch xác định tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 139.017 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước khoảng 34.782 tỷ đồng, chiếm 25%. Việc bố trí vốn được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư và đầu tư công.

Nguồn ngân sách được sử dụng cho các nhiệm vụ thuộc phạm vi chi ngân sách theo quy định, gồm bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên; điều tra, kiểm kê rừng; phát triển giống cây lâm nghiệp và đầu tư kết cấu hạ tầng lâm nghiệp. Cùng với đó, quy hoạch định hướng huy động các nguồn vốn hợp pháp khác, phát huy chính sách tín dụng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và các cơ chế hỗ trợ phát triển sinh kế gắn với tài nguyên rừng.

Về cơ chế, chính sách, các nhiệm vụ trọng tâm gồm rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về lâm nghiệp; phát triển mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị; tổ chức sản xuất nông, lâm, ngư kết hợp bền vững và thực hiện truy xuất nguồn gốc lâm sản. Quy hoạch cũng đặt ra yêu cầu xây dựng, triển khai các mô hình sản xuất lâm nghiệp đa giá trị, tổng kết và đánh giá để hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn.

Ứng dụng khoa học công nghệ được gắn với các khâu quản lý, theo dõi, giám sát và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Các giải pháp gồm ứng dụng công nghệ cao trong giám sát tài nguyên rừng, phát triển giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, nâng cao năng lực quản lý và hoàn thiện hệ thống dữ liệu phục vụ theo dõi, đánh giá quy hoạch.

Đến năm 2030, quy hoạch đặt mục tiêu hoàn thành việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp đang tạm giao UBND cấp xã trực tiếp quản lý.

Gắn phát triển vùng nguyên liệu với chế biến sâu, nâng giá trị lâm sản

Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, quy hoạch đặt mục tiêu tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ lâm sản. Các hoạt động khai thác, chế biến và thương mại được định hướng theo chuỗi, gắn nguồn nguyên liệu với công nghệ sản xuất, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu của thị trường.

Giai đoạn 2026-2030, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân được đặt mục tiêu đạt 5-5,5% mỗi năm. Giá trị xuất khẩu lâm sản phấn đấu vượt 20 tỷ USD vào năm 2030, trong khi giá trị tiêu thụ lâm sản tại thị trường trong nước đạt 6-7 tỷ USD.

Về nguồn nguyên liệu, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung dự kiến đạt trên 30 triệu m³ mỗi năm vào năm 2030. Sản lượng gỗ từ cây trồng phân tán, cây vườn nhà và cây cao su đạt 10 triệu m³ mỗi năm. Cùng với đó, quy hoạch yêu cầu thiết lập, vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp và ứng dụng công nghệ, thiết bị trong khai thác, vận chuyển gỗ, lâm sản.

Để nâng cao giá trị sản phẩm, quy hoạch định hướng đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị chế biến; phát triển sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao; nâng năng suất, chất lượng và sử dụng tiết kiệm nguyên liệu. Việc phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chuỗi cung ứng gỗ được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và các cam kết quốc tế.

Các giải pháp thương mại gồm tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và phát triển thị trường trong nước. Định hướng phát triển vùng cũng gắn hoạt động chế biến với địa bàn có tiềm năng về nguyên liệu và hạ tầng.

Cụ thể, vùng Trung du và miền núi phía Bắc được định hướng hình thành một số trung tâm chế biến sâu về gỗ và lâm sản. Vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển các trung tâm chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ và làng nghề truyền thống gắn với hệ thống cảng biển, logistics.

Bắc Trung Bộ phát triển vùng nguyên liệu rừng sản xuất gắn với chế biến sâu; Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phát triển doanh nghiệp chế biến lâm sản quy mô lớn phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Đông Nam Bộ tiếp tục là trung tâm chế biến gỗ và lâm sản trọng điểm của cả nước.

Ngoài gỗ, quy hoạch định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, nông lâm kết hợp và kinh tế dưới tán rừng. Các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí cũng được gắn với yêu cầu bảo vệ và phát triển rừng bền vững, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương.

Đối với dịch vụ môi trường rừng, quy hoạch đặt mục tiêu thu bình quân 4.000 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Các giải pháp gồm tiếp tục thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon; nghiên cứu mở rộng loại hình, đối tượng chi trả và phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng. Nguồn thu này được định hướng phục vụ công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và nâng cao chất lượng rừng.

Nguồn nhân lực cũng là một nội dung trong quy hoạch. Đến năm 2030, tỷ lệ lao động trong sản xuất lâm nghiệp được đào tạo nghề làm việc trong ngành phấn đấu tăng từ 20% lên 30%; thu nhập, mức sống của người lao động, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, được xác định là mục tiêu cần cải thiện. Các giải pháp đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ quản lý, nghiên cứu và lao động ngành lâm nghiệp được triển khai cùng với ứng dụng khoa học công nghệ.

Với tầm nhìn đến năm 2050, quy hoạch định hướng xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế, kỹ thuật hiện đại, làm chủ công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Các nhiệm vụ về vốn, cơ chế chính sách, khoa học công nghệ, vùng nguyên liệu và chế biến được xác định trong cùng định hướng phát triển lâm nghiệp đa giá trị, gắn hiệu quả kinh tế với bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển bền vững.

 

Đăng ký đặt báo