Rừng giữ nước, bảo vệ đất, nuôi dưỡng đa dạng sinh học và góp phần điều hòa khí hậu. Khi khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon được lượng hóa và chứng nhận, công sức bảo vệ rừng có thêm cơ hội tạo nguồn thu. Với Lâm Đồng, phát triển tín chỉ carbon rừng mở ra hướng huy động tài chính cho bảo tồn, đồng thời đặt ra yêu cầu về dữ liệu, quản trị và quyền lợi của người giữ rừng.

Một cánh rừng đứng vững qua nhiều mùa khô mang theo giá trị tích lũy của thời gian. Trong thân cây, bộ rễ và đất rừng là lượng carbon được lưu giữ. Phía sau màu xanh ấy còn có công sức tuần tra, phòng cháy, phục hồi sinh cảnh và ngăn chặn những tác động làm suy giảm tài nguyên.
Thị trường carbon tạo cơ hội để một phần giá trị khí hậu của rừng được ghi nhận bằng sản phẩm có thể giao dịch. Cơ hội này gắn việc bảo vệ tài nguyên với trách nhiệm giảm phát thải, đưa chất lượng quản lý rừng vào trung tâm của bài toán phát triển.
Ngày 18/9/2026, UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị phổ biến các quy định về dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon và cơ chế tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng. Sự kiện diễn ra trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Theo báo cáo, Lâm Đồng hiện có hơn 1,112 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 45,91%. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên hơn 930.156 ha, chiếm trên 83% tổng diện tích rừng toàn tỉnh.
Đây là tiềm năng lớn để phát triển dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon, xây dựng các chương trình giảm phát thải, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon rừng.

Tỉnh còn sở hữu hệ sinh thái rừng đa dạng với nhiều khu vực có giá trị cao về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan, đa dạng sinh học và văn hóa bản địa như: Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang, các Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, Tà Đùng; các Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, Tà Kóu, Núi Ông cùng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có quy mô lớn.
Diện tích rừng là nền tảng để xem xét cơ hội. Khả năng tạo ra tín chỉ còn phụ thuộc vào loại hoạt động, hiện trạng tài nguyên, phương pháp tính toán và kết quả được kiểm chứng. Vì vậy, một bản đồ rừng rộng lớn cần được tiếp nối bằng những hồ sơ dự án đủ tin cậy.
Hội nghị tập trung vào kiến thức khí hậu, khung pháp lý, tiêu chuẩn và quy trình tạo tín chỉ, cùng quy định về sàn giao dịch. Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, định hướng bước tiếp theo là lựa chọn khu vực tiềm năng, hình thành ý tưởng dự án và đăng ký vào hệ thống quốc gia.

Ý nghĩa của hội nghị nằm ở việc tạo điểm xuất phát chung cho cơ quan quản lý, chủ rừng và doanh nghiệp. Khi hiểu rõ điều kiện tham gia, các bên có thể đánh giá đề xuất hợp tác bằng chất lượng dự án và khả năng thực hiện.
Đối với Lâm Đồng, đây cũng là dịp đặt lại câu hỏi về cách nâng cao giá trị tài nguyên: làm thế nào để những hoạt động giữ rừng hằng ngày được ghi nhận đầy đủ hơn, có nguồn lực duy trì lâu dài hơn và mang lại lợi ích rõ ràng hơn cho người tham gia?
Giá trị carbon của rừng chỉ trở thành nguồn lực phát triển khi có bằng chứng đáng tin cậy và cơ chế sử dụng nguồn thu rõ ràng.

Cây rừng hấp thụ CO₂ trong quá trình sinh trưởng, nhưng lượng carbon đang có trong một khu rừng không đồng nghĩa với số tín chỉ có thể bán. Dự án phải xác định kết quả khí hậu theo phương pháp và tiêu chuẩn áp dụng, trải qua các bước đánh giá trước khi được cấp tín chỉ.
Trong chương trình VCS của Verra, mỗi đơn vị tín chỉ đại diện cho một tấn CO₂ tương đương được giảm phát thải hoặc loại bỏ. Những yêu cầu về khả năng đo lường, tính bổ sung, kiểm chứng độc lập và quản lý đăng ký giúp phân biệt kết quả được chứng nhận với tiềm năng ước tính. Đây là một ví dụ về tiêu chuẩn quốc tế; việc chọn tiêu chuẩn cho dự án tại Lâm Đồng phải phù hợp với pháp luật và thị trường dự kiến tham gia.
Khung chính sách trong nước đã có bước tiến với Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Văn bản được ban hành ngày 21/5/2026, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, theo Cổng văn bản Chính phủ.
Theo nội dung được Báo Chính phủ giới thiệu, bên cung ứng phải xây dựng, đăng ký dự án, tổ chức đo đạc, báo cáo, thẩm định và được cấp tín chỉ theo quy định. Lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ cung ứng phải được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận. Kết quả đã chuyển nhượng không được tiếp tục bán cho bên khác.
Hành trình phát triển carbon rừng vì vậy cần đi từ hồ sơ pháp lý đến bằng chứng kỹ thuật. Dữ liệu về ranh giới, trạng thái rừng, lịch sử biến động và hoạt động quản lý là cơ sở đánh giá dự án. Báo Chính phủ cũng nhấn mạnh vai trò của kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng và lượng hóa carbon trước khi tìm kiếm giao dịch.
Từ những yêu cầu này, Lâm Đồng có thể ưu tiên xây dựng hồ sơ dữ liệu theo từng khu vực. Mỗi hồ sơ cần trả lời được: ai quản lý rừng, hoạt động nào tạo ra kết quả khí hậu, kết quả được theo dõi ra sao và những quyền, nghĩa vụ nào đã gắn với diện tích đó.

Cách lựa chọn hoạt động cũng cần dựa trên hiện trạng. Phương pháp VM0047 của Verra, chẳng hạn, áp dụng cho trồng rừng, tái trồng rừng và phục hồi thảm thực vật; có cách tiếp cận dành cho tăng trữ lượng carbon tại khu vực đã có rừng. Điều này cho thấy phát triển dự án cần gắn với phương pháp cụ thể, thay vì dùng một hệ số hấp thụ chung cho mọi diện tích.
Một dự án chất lượng còn phải xử lý rủi ro. Cháy rừng, hạn hán hoặc thay đổi sử dụng đất có thể làm carbon đã lưu giữ quay trở lại khí quyển. Verra sử dụng cơ chế dự phòng theo mức độ rủi ro cho các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất; phần dự phòng không được bán như tín chỉ thương mại.
Bên cạnh đó là nguy cơ dịch chuyển tác động: bảo vệ một khu vực nhưng áp lực khai thác lại chuyển sang nơi khác. Chương trình VCS yêu cầu xem xét và tính toán rò rỉ phát thải theo phương pháp áp dụng.
Những yêu cầu ấy làm rõ vì sao dữ liệu carbon cần đi cùng quản lý thực địa. Bản đồ và mô hình tính toán phải được hỗ trợ bằng hoạt động bảo vệ rừng có thể theo dõi, kiểm tra và duy trì qua nhiều năm.
Đây cũng là cơ hội nâng chất lượng quản trị tài nguyên. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, chủ rừng có thêm cơ sở đánh giá biến động, nhận diện khu vực cần phục hồi và kiểm tra hiệu quả của từng hoạt động bảo vệ.
Diện tích tạo nền tảng; chất lượng dữ liệu và kết quả được kiểm chứng tạo cơ sở cấp tín chỉ.

Một dự án carbon có ý nghĩa phát triển khi nguồn thu góp phần duy trì những hoạt động đã tạo ra nó. Với rừng, đó là bảo vệ tài nguyên, phục hồi hệ sinh thái và củng cố điều kiện sống của người dân tham gia giữ rừng.
Tại hội nghị, các chuyên gia, đại diện sở, ngành, địa phương và đơn vị chủ rừng đã tập trung thảo luận về quy trình xây dựng, đăng ký và thực hiện dự án các-bon rừng; phương pháp xác lập đường cơ sở, đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải; quyền sở hữu, chuyển nhượng tín chỉ và cơ chế phân chia lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng cùng các bên tham gia.
Các đại biểu cũng trao đổi về việc phân định kết quả giảm phát thải phục vụ đóng góp do quốc gia tự quyết định với phần có thể đưa ra trao đổi, chuyển nhượng; giải pháp phòng ngừa nguy cơ tính trùng tín chỉ giữa các chương trình, dự án; nguồn kinh phí thực hiện, chất lượng dữ liệu rừng và yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn.
Một số chủ rừng đề nghị các cơ quan Trung ương sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật cụ thể để địa phương có đủ căn cứ lập hồ sơ, đánh giá tiềm năng và lựa chọn khu vực phù hợp triển khai dự án.

Nghị định 180, theo Báo Chính phủ, đặt yêu cầu minh bạch và hài hòa lợi ích. Nguồn thu của chủ rừng là tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được ưu tiên hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng, sinh kế cộng đồng và các công việc xây dựng, đo đạc, thẩm định dự án.
Để nguyên tắc này đi vào thực tế, cơ chế chia sẻ lợi ích cần được xem là một phần của thiết kế dự án ngay từ đầu. Người tham gia cần biết công việc của mình, cách ghi nhận đóng góp, thời điểm có thể nhận lợi ích và trách nhiệm khi xảy ra sự cố.
Một phương án tài chính có sức thuyết phục phải làm rõ chi phí điều tra, tư vấn, giám sát và chứng nhận. Hướng dẫn phát triển dự án của Verra cho thấy chi phí gồm nhiều nhóm, từ xây dựng và vận hành đến kiểm toán; thời gian đăng ký, cấp tín chỉ cũng thay đổi theo dự án. Kế hoạch nguồn thu cần được đánh giá cùng lịch thực hiện và nghĩa vụ chi trả.
Lâm Đồng là một trong những địa phương thuộc phạm vi chương trình Giảm phát thải vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, xây dựng theo tiêu chuẩn ART-TREES.
Tuy nhiên, việc triển khai tại địa phương hiện vẫn chủ yếu ở giai đoạn phổ biến chính sách, rà soát cơ sở pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao năng lực.
Ở cấp địa phương, có thể bắt đầu bằng những khu vực có hồ sơ rõ ràng, dữ liệu tương đối đầy đủ và khả năng tổ chức quản lý lâu dài. Việc lựa chọn thí điểm nên chú trọng khả năng học hỏi và kiểm chứng hiệu quả, tạo cơ sở mở rộng sau khi đã xử lý được vướng mắc.
Song song với đó là đào tạo đội ngũ. Chủ rừng cần đủ năng lực đọc hồ sơ, hiểu phương pháp, kiểm tra dữ liệu và theo dõi nghĩa vụ hợp đồng. Năng lực này giúp duy trì dự án khi nhân sự thay đổi hoặc khi hoạt động chuyển sang giai đoạn giám sát dài hạn.
Với doanh nghiệp, đề xuất hợp tác nên thể hiện rõ nguồn vốn ban đầu, phương pháp dự kiến, trách nhiệm phát triển hồ sơ, quyền tiếp cận dữ liệu và cách phân chia lợi ích. Điều khoản về chi phí, độc quyền và xử lý rủi ro cần được xem xét trước khi quyết định hợp tác.
Với cộng đồng, thông tin phải dễ hiểu và có thể kiểm tra. Cơ chế phản ánh, giải quyết bất đồng và công khai khoản chi sẽ giúp người dân tham gia chủ động hơn. Sự đồng thuận được xây dựng từ những quyền lợi và trách nhiệm cụ thể sẽ tạo nền tảng bền vững cho quá trình thực hiện.
Từ các yêu cầu pháp lý và kỹ thuật, bài viết đề xuất năm ưu tiên: rà soát hiện trạng và quyền liên quan; chuẩn hóa dữ liệu; đánh giá tính khả thi; thiết kế cơ chế lợi ích; tổ chức thí điểm và giám sát. Đây là đề xuất phân tích, không phải danh mục nhiệm vụ đã được hội nghị phê duyệt.
Thước đo thành công cần bao gồm tình trạng rừng, chất lượng quản lý và lợi ích đến với người tham gia. Một dự án mang lại nguồn thu nhưng không đủ khả năng duy trì bảo vệ rừng sẽ khó đáp ứng mục tiêu dài hạn.
Hội nghị mở đầu cho quá trình chuyển kiến thức thành năng lực triển khai. Phần việc tiếp theo đòi hỏi sự kiên trì: hoàn thiện hồ sơ, đo đạc đúng, lựa chọn đối tác phù hợp và thống nhất cách sử dụng nguồn thu.
Khi những điều kiện đó được đáp ứng, tín chỉ carbon có thể trở thành nguồn tài chính bổ sung cho Lâm Đồng. Giá trị mới của tài nguyên rừng được tạo nên từ việc giữ gìn màu xanh, ghi nhận đúng kết quả khí hậu và đưa lợi ích trở lại với những người góp sức bảo vệ rừng.