
Khai thác tiềm năng, làm chủ không gian biển
Bước vào giai đoạn phát triển mới, kinh tế biển được xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã xác định các định hướng chiến lược, mục tiêu và giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế từ biển.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, Việt Nam là quốc gia biển với vùng biển rộng khoảng 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền và hơn 3.000 đảo, trong đó có 2.773 đảo ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi thuộc các đặc khu Hoàng Sa, Trường Sa.
Khoảng 85% số đảo ven bờ tập trung tại vùng biển sát bờ Quảng Ninh - Hải Phòng, tiếp đến là Khánh Hòa và An Giang. Đây là những khu vực có cảnh quan, hệ sinh thái biển đa dạng, đồng thời giàu nguồn lợi hải sản và tài nguyên biển.
Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km, không tính bờ các đảo, chạy dọc theo hướng Bắc - Nam và hướng ra Biển Đông. Vị trí này tạo điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các tuyến hàng hải quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và trên thế giới.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng quá trình tổ chức lại không gian lãnh thổ từ tháng 7/2025 cũng đã tính đến lợi thế từ biển. Sau khi hợp nhất, 21/34 tỉnh, thành phố có biển. Không gian biển của các địa phương có biển được giữ nguyên hoặc mở rộng, qua đó tạo thêm dư địa để hình thành các mô hình tăng trưởng mới.
Theo định hướng được ông dẫn chứng, các tỉnh, thành phố có biển được kỳ vọng đóng góp khoảng 70% GDP cả nước vào năm 2030, với tốc độ tăng GRDP bình quân trên 11%/năm.
Từ góc độ ngành, ông Đỗ Thành Hưng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học - Kỹ thuật công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VISIA), nhận định biển đối với Việt Nam không chỉ là lợi thế phát triển kinh tế mà còn là không gian sinh tồn, phát triển, bảo đảm an ninh - quốc phòng và hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần đối mặt với giới hạn, kinh tế biển có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng. Vận tải biển, logistics, cảng nước sâu, dầu khí, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, dịch vụ hàng hải, nghiên cứu đại dương và kinh tế tuần hoàn biển đều mở ra dư địa phát triển mới.
Để biến tiềm năng thành lợi thế, theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Việt Nam cần vươn ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ”. Trong đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ biển tiên tiến, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo để từng bước làm chủ các vùng biển xa, biển sâu.
Cùng với đó, quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển cần được triển khai đồng bộ nhằm giảm xung đột lợi ích giữa các hoạt động kinh tế. Việc bố trí các hoạt động trong không gian biển cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành, đồng thời duy trì các mối liên kết tự nhiên và kinh tế.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cũng cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế và chính sách, trước mắt là sớm điều chỉnh Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Hệ thống pháp luật cần hỗ trợ chuyển từ quản lý biển theo từng ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển, với cơ chế điều phối liên ngành và đánh giá tác động tổng hợp ngay từ khâu quy hoạch.
Phát triển công nghiệp hàng hải, nâng cao năng lực tự chủ
Theo ông Đỗ Thành Hưng, một quốc gia biển mạnh không chỉ được đánh giá bằng số lượng cảng biển hay tàu thuyền, mà phải có khả năng làm chủ không gian biển.
Năng lực này bao gồm khả năng thiết kế, xây dựng, quản lý, vận hành và bảo vệ hệ thống hạ tầng trên biển và ven biển, từ cảng biển hiện đại, trung tâm logistics, khu hậu cần nghề cá đến các công trình dầu khí, điện gió ngoài khơi, công trình lấn biển, sân bay trên đảo, hệ thống cứu hộ, cứu nạn và cơ sở nghiên cứu khoa học biển.
Muốn xây dựng và vận hành những công trình, phương tiện đó, Việt Nam cần một nền công nghiệp hàng hải đủ mạnh.
Theo ông Đỗ Thành Hưng, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngày 14/7/2026 về việc đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh cho thấy yêu cầu hoàn thiện tư duy phát triển ngành.
Ông cho rằng Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã đặt ra những định hướng lớn cho giai đoạn phát triển mới của kinh tế biển. Trọng tâm không chỉ là phát triển riêng lẻ từng ngành, mà hướng tới xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải Việt Nam làm nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế biển.
Thực tiễn tại Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Na Uy cho thấy công nghiệp hàng hải đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành năng lực kinh tế biển. Các quốc gia này đã xây dựng hệ sinh thái từ thiết kế, đóng tàu, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất thiết bị đến nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo ông Hưng, Việt Nam cần từng bước hình thành hệ sinh thái tương tự để nâng cao năng lực tự chủ. Nếu chỉ khai thác biển nhưng chưa làm chủ công nghệ, phương tiện và hạ tầng phục vụ biển, phần giá trị gia tăng lớn sẽ tiếp tục thuộc về các quốc gia khác.
“Chỉ khi làm chủ được công nghiệp hàng hải, Việt Nam mới có thể chủ động phát triển kinh tế biển, giảm phụ thuộc vào bên ngoài, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Đỗ Thành Hưng khẳng định.