Hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp

Sự phát triển của công nghiệp và kinh tế số đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống cung ứng năng lượng, từ bảo đảm nguồn điện ổn định đến mở rộng ứng dụng năng lượng tái tạo và các giải pháp công nghệ tiết kiệm năng lượng.
Sự phát triển của công nghiệp và kinh tế số đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống cung ứng năng lượng. (Ảnh: BTC)
Sự phát triển của công nghiệp và kinh tế số đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống cung ứng năng lượng. (Ảnh: BTC)

Chủ động nguồn cung, tối ưu chi phí năng lượng

Sự mở rộng của các ngành công nghiệp, cùng tốc độ phát triển của kinh tế số, đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hạ tầng năng lượng. Không chỉ cần bảo đảm đủ điện cho hoạt động sản xuất, hệ thống cung ứng còn phải đáp ứng yêu cầu vận hành liên tục, ổn định và phù hợp với định hướng giảm phát thải. Đáng chú ý, công suất các trung tâm dữ liệu tại Việt Nam dự kiến tăng thêm hơn 500 MW đến năm 2030, kéo theo nhu cầu điện lớn hơn cho hạ tầng số.

Trong khi nhu cầu sử dụng điện tiếp tục tăng, quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn cung cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với vận hành hệ thống. Điện gió và điện mặt trời phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khiến sản lượng phát điện có tính biến động. Khi tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo gia tăng, việc bảo đảm cân bằng cung cầu và duy trì ổn định lưới điện cần được chú trọng, đi cùng các giải pháp công nghệ và lưu trữ phù hợp.

Theo đó, ông Jason Wu, Tổng Giám đốc Huawei Southeast Asia Digital Power, cho rằng giải pháp kết hợp công nghệ tạo lưới (grid-forming) với hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) có thể hỗ trợ ổn định hệ thống điện, đồng thời tái tạo một số đặc tính vận hành của máy phát điện truyền thống. Theo ông, công nghệ tạo lưới kết hợp BESS đã chứng minh hiệu quả thực tế tại Đông Nam Á, với nhiều dự án điện mặt trời quy mô lớn tích hợp lưu trữ đi vào vận hành, góp phần hỗ trợ quá trình thay thế các nguồn nhiệt điện truyền thống một cách an toàn.

Các đại biểu tham quan gian hàng tại Vietwater 2026. (Ảnh: BTC)
Các đại biểu tham quan gian hàng tại Vietwater 2026. (Ảnh: BTC)

Cùng với công nghệ lưu trữ, các thiết bị chuyển đổi và quản lý năng lượng cũng góp phần hoàn thiện hệ sinh thái hạ tầng điện. Ông James Yuk, Phó Chủ tịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Deye, cho biết doanh nghiệp cung cấp các dòng biến tần chuỗi và pin lưu trữ, tập trung vào phân khúc công nghiệp và dân dụng. Theo ông, hợp tác với các đối tác kỹ thuật tại địa phương giúp củng cố mạng lưới dịch vụ, tăng cường kết nối giữa hạ tầng năng lượng và hạ tầng dữ liệu, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế.

Ở một diễn biến khác, về khâu phân phối, độ tin cậy của lưới điện có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp, nhất là tại các khu công nghiệp có nhu cầu sử dụng điện lớn. Theo ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam cho biết, đơn vị đặt mục tiêu đến năm 2028, toàn bộ lưới điện 110 kV thuộc phạm vi quản lý đáp ứng tiêu chuẩn N-1. Tiêu chuẩn này bảo đảm hệ thống vẫn có thể vận hành bình thường khi một phần tử gặp sự cố, nhờ có phương án dự phòng.

Ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam.
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam.

Đối với khách hàng tại các khu công nghiệp, phương án cấp điện từ hai nguồn độc lập được chú trọng nhằm hạn chế nguy cơ gián đoạn sản xuất khi xảy ra sự cố lưới điện. Song song đó, ngành điện miền Nam đang thúc đẩy phát triển lưới điện thông minh, ứng dụng công nghệ hiện đại để quản lý linh hoạt các nguồn điện phân tán. Đây là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đáp ứng yêu cầu hoạt động ngày càng cao của các cơ sở sản xuất.

Hướng đến sử dụng hiệu quả và tuần hoàn tài nguyên

Bên cạnh khả năng tiếp cận nguồn điện ổn định, chi phí năng lượng cũng là vấn đề được doanh nghiệp quan tâm trong quá trình tổ chức sản xuất. Tại nhiều khu công nghiệp, tiền điện chiếm tỷ trọng đáng kể trong chi phí vận hành; sự khác biệt giữa các khung giờ tính giá điện cũng tạo áp lực đối với bài toán kiểm soát giá thành. Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn điện tại chỗ, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà phục vụ nhu cầu tự sản xuất, tự tiêu thụ, được xem là một hướng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về năng lượng.

Theo ông Bùi Quốc Hoan, ngành điện tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) hoặc các quy định hiện hành. Tại những khu công nghiệp có đơn vị khác tham gia bán điện, ngành điện chủ động phối hợp với chính quyền địa phương để xây dựng cơ chế phù hợp, giải quyết nhu cầu năng lượng tại chỗ của doanh nghiệp.

Hiệu quả đầu tư là yếu tố quan trọng khi doanh nghiệp cân nhắc triển khai các hệ thống năng lượng sạch. Ông Phạm Bắc, Chủ tịch BLVera & Pytes Vietnam, cho biết thời gian hoàn vốn của hệ thống điện mặt trời phục vụ nhu cầu tự sử dụng vào khoảng 4–5 năm. Trong khi đó, thiết bị pin mặt trời có tuổi thọ từ 12–15 năm, thời gian bảo hành từ 10–15 năm. Theo tính toán, sau giai đoạn hoàn vốn, nhà đầu tư có thể tiếp tục sử dụng nguồn điện với chi phí thấp trong khoảng 5–7 năm còn lại của vòng đời thiết bị. Ông cũng nhận định khoảng 2–3 năm tới có thể là giai đoạn phát triển mạnh của năng lượng sạch, từ hộ gia đình đến nhà xưởng sản xuất.

Cùng với năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước là yêu cầu không thể tách rời trong quá trình phát triển công nghiệp xanh. Quá trình mở rộng đô thị, khu công nghiệp và nhà máy kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về cấp nước, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chất lượng, xử lý nước thải và tăng khả năng tái sử dụng nguồn nước.

Theo ông Nguyễn Hồng Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bảo đảm an ninh nguồn nước cần gắn với đổi mới quản trị từ điều hòa, phân phối đến khai thác, sử dụng và phục hồi nguồn nước. Trong đó, chuyển đổi số toàn diện được xác định là “ưu tiên hàng đầu cho quản trị tài nguyên nước bền vững”. Cùng với ứng dụng công nghệ số, cơ quan quản lý tập trung thúc đẩy sử dụng nước tuần hoàn, tiết kiệm, hiệu quả và phục hồi những nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm.

vietwater-1793840644.jpg
Ông Nguyễn Hồng Hiếu, Phó cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (Ảnh: BTC)

Ở góc độ ứng dụng công nghệ, GS.TS Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường TP.HCM, cho rằng sự kết nối giữa các lĩnh vực nước, năng lượng và công nghiệp giúp doanh nghiệp lựa chọn công nghệ đồng bộ, cân nhắc hiệu suất, chi phí vận hành và khả năng bảo trì. Các giải pháp bảo vệ nguồn nước, cấp nước an toàn, giảm thất thoát, xử lý và tái sử dụng nước cần được triển khai gắn với yêu cầu sử dụng tài nguyên hiệu quả, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất.

Từ góc nhìn ngành năng lượng, đại diện Trung tâm Thông tin năng lượng và Phát triển thị trường điện lực, Cục Điện lực, Bộ Công Thương, nhận định quản lý tài nguyên nước ngày càng có mối liên hệ chặt chẽ với năng lượng, công nghệ làm mát và hạ tầng số. Hiệu quả năng lượng và phát triển bền vững đang trở thành những yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. Theo đại diện Trung tâm, bên cạnh hoàn thiện chính sách và phát triển hạ tầng, cần chú trọng đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, huy động đầu tư và tăng cường hợp tác công tư để đưa các định hướng phát triển vào thực tiễn.

Theo dòng chảy ấy, hạ tầng năng lượng, cấp thoát nước, công nghệ làm mát và dữ liệu cũng được "trình làng" tại chuỗi triển lãm Vietwater 2026, Vietnam Energy Week, HVACR Vietnam, Vietnam Supporting Industry Fair (VSIF) và Vietnam Data Center & Cloud Confex. Trong đó, Vietwater 2026 diễn ra từ ngày 4–6/11 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP.HCM, quy tụ hơn 800 doanh nghiệp đến từ hơn 25 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia trưng bày, với các hoạt động trưng bày công nghệ, kết nối kinh doanh và hội thảo về quản trị nước thông minh, an ninh nguồn nước, mô hình thành phố bọt biển và khu công nghiệp sinh thái./.

Đăng ký đặt báo