
Thất thoát kéo dài từ đồng ruộng đến khâu lưu thông
Thất thoát nông sản không chỉ xảy ra trong quá trình thu hoạch mà còn tích tụ qua nhiều công đoạn của chuỗi cung ứng, từ sơ chế, đóng gói, bảo quản đến vận chuyển và phân phối. Những hạn chế về công nghệ, thiết bị, hạ tầng kho bãi cũng như sự thiếu liên kết giữa các chủ thể khiến một phần đáng kể sản lượng không thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế tương xứng.
Theo ông Vũ Huy Phúc, Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, gạo, rau quả, cá nước ngọt và thịt là những nhóm hàng có nguy cơ thất thoát lớn. Kết quả khảo sát tại một số chuỗi giá trị cho thấy tỷ lệ tổn thất ở tôm đạt 8,8%, vải thiều 13,6%, cà phê 9,2% và lúa gạo 13,9%. Đối với rau quả, mức độ hư hỏng phụ thuộc nhiều vào thời điểm thu hoạch, quy trình sơ chế, điều kiện đóng gói và khả năng duy trì nhiệt độ phù hợp trong quá trình vận chuyển.
Đặc thù dễ hư hỏng của nông sản tươi đặt ra yêu cầu cao đối với hệ thống bảo quản sau thu hoạch. Tuy nhiên, tại nhiều vùng sản xuất, kho mát, kho lạnh và phương tiện vận tải chuyên dụng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, nhất là vào thời điểm thu hoạch tập trung. Khi sản lượng tăng nhanh trong thời gian ngắn nhưng năng lực tiếp nhận, sơ chế và bảo quản không theo kịp, hàng hóa dễ bị tồn đọng, giảm chất lượng hoặc buộc phải tiêu thụ với giá thấp.
Với lúa gạo, tổn thất có thể phát sinh xuyên suốt từ thu hoạch, vận chuyển, phơi sấy đến xay xát và lưu kho. Việc thu hoạch không đúng độ chín, độ ẩm hạt chưa đạt yêu cầu, thiết bị sấy và xay xát còn hạn chế hay điều kiện bảo quản thiếu phù hợp đều ảnh hưởng đến tỷ lệ thu hồi và chất lượng thành phẩm. Không chỉ phần lúa chính, các phụ phẩm sau chế biến cũng chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động sản xuất lúa tạo ra hơn 24 triệu tấn rơm rạ mỗi năm, song mới khoảng 30% được thu gom để phục vụ các mục đích sản xuất. Trấu, chiếm khoảng 20-22% khối lượng lúa sau xay xát, cũng là nguồn nguyên liệu có thể tạo thêm giá trị nhưng phần lớn chưa được tận dụng hiệu quả. Thực trạng này cho thấy giảm thất thoát cần được nhìn nhận rộng hơn, không chỉ dừng ở việc bảo toàn sản lượng mà còn phải gắn với khai thác phụ phẩm và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Trong lĩnh vực thủy sản, những bất cập về bảo quản trên tàu và tại các điểm trung chuyển tiếp tục làm suy giảm giá trị sản phẩm. Ông Lê Anh Tùng, Viện Khoa học thủy sản Việt Nam cho biết, khảo sát 79 tàu cá và ngư dân khai thác cá ngừ quy mô nhỏ ghi nhận mức thiệt hại tài chính bình quân khoảng 59,6 triệu đồng mỗi chuyến. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tình trạng cá bị va đập, trầy xước, thiếu đá lạnh, nhiệt độ bảo quản không phù hợp, xếp cá quá chặt trong hầm hoặc kéo dài thời gian xử lý sau khai thác.

Không dừng lại ở tàu cá, khâu thu mua và trung gian cũng phát sinh tổn thất. Tỷ lệ thất thoát bình quân đối với cá ngừ tại công đoạn này khoảng 5,02%. Thời gian chờ dỡ hàng tại cảng, thiếu cơ sở bảo quản lạnh, đá tan trong quá trình vận chuyển và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa tàu cá, thương lái với cơ sở chế biến đều có thể khiến chất lượng sản phẩm suy giảm. Hệ quả là khoảng 25% cá ngừ tươi không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu, trong khi phần còn lại thường phải phân loại xuống cấp thấp hơn.
Những số liệu trên cho thấy logistics không đơn thuần là khâu vận chuyển sau sản xuất mà có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo toàn giá trị hàng hóa. Thực tế, trong 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô xuất khẩu càng lớn, yêu cầu đối với năng lực kho bãi, bảo quản, vận tải và dịch vụ hỗ trợ càng trở nên rõ nét.
Một lô hàng được thu hoạch đúng thời điểm nhưng chậm làm mát, phải lưu kho trong điều kiện không phù hợp hoặc trải qua nhiều điểm trung chuyển vẫn có thể mất đi lợi thế chất lượng trước khi đến thị trường tiêu thụ. Vì vậy, hiệu quả logistics cần được tính toán ngay từ khâu tổ chức vùng nguyên liệu, thay vì chỉ tập trung xử lý khi hàng hóa đã hoàn tất thu hoạch.
Kết nối hạ tầng, công nghệ và chính sách để giữ giá trị nông sản
Một trong những nguyên nhân khiến chi phí logistics và tỷ lệ tổn thất còn cao là sự thiếu đồng bộ giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng. Tại một số vùng sản xuất tập trung, hạ tầng phục vụ xuất khẩu chưa được bố trí tương xứng với quy mô hàng hóa. Điều này buộc doanh nghiệp phải vận chuyển nông sản qua những chặng đường dài để tiếp cận cảng, kho lạnh hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ chuyên ngành.

Thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, dù là vùng sản xuất và chế biến lúa gạo trọng điểm, khu vực vẫn thiếu cảng chuyên dụng nước sâu có khả năng tiếp nhận tàu lớn. Theo phản ánh của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, một phần hàng hóa phải vận chuyển lên TP.HCM để phục vụ hoạt động xuất khẩu, làm gia tăng quãng đường và chi phí logistics.
Tương tự, đại diện Hiệp hội Dừa Việt Nam từng đề cập tình trạng thiếu một số dịch vụ như hun trùng, chiếu xạ tại miền Bắc, khiến doanh nghiệp phải đưa hàng vào miền Nam xử lý trước khi tiếp tục xuất khẩu. Những bất cập này cho thấy việc đầu tư riêng lẻ vào từng hạng mục chưa đủ để giải quyết bài toán tổng thể nếu thiếu sự kết nối giữa vùng sản xuất, trung tâm logistics, cảng biển và cửa khẩu.
Do đó, phát triển logistics nông sản cần chuyển từ cách tiếp cận từng công đoạn sang tổ chức một hệ thống liên kết xuyên suốt. Quy hoạch hạ tầng phải dựa trên quy mô vùng nguyên liệu, đặc tính từng nhóm hàng, chu kỳ mùa vụ và yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Cùng với đường bộ, việc khai thác hiệu quả vận tải đường thủy và đường biển cũng có ý nghĩa quan trọng trong giảm áp lực chi phí, đặc biệt đối với những vùng sản xuất tập trung.
Bên cạnh hạ tầng, ứng dụng công nghệ trong quản lý chuỗi cung ứng là hướng đi cần được đẩy mạnh. Việc số hóa thông tin về nguồn gốc, thời gian thu hoạch, điều kiện bảo quản và hành trình vận chuyển sẽ giúp các chủ thể chủ động kiểm soát chất lượng từng lô hàng. Khi dữ liệu được kết nối, doanh nghiệp có thể hạn chế tình trạng chờ đợi, lưu kho kéo dài và phối hợp tốt hơn giữa các khâu sản xuất, thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Hiệu quả của việc giảm tổn thất cũng đã được phản ánh qua những mô hình sản xuất thực tế. Nghiên cứu của Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường chỉ ra rằng, nếu giảm được một nửa mức thất thoát hiện nay trong chuỗi lúa gạo, giá trị kinh tế có thể được bảo toàn thêm khoảng 1,96-2,67 triệu đồng/ha/vụ.
Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Bình (Đồng Tháp) Tạ Văn Bông cho biết, đơn vị đang tận dụng rơm rạ sau thu hoạch để sản xuất giá thể hữu cơ và phân hữu cơ chất lượng cao. Trong giai đoạn 2024-2025, sản lượng giá thể và phân hữu cơ của hợp tác xã đạt 72,5 tấn; năm 2026 dự kiến nâng lên 200 tấn. Mô hình này cho thấy phụ phẩm nông nghiệp hoàn toàn có thể trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất mới nếu được tổ chức thu gom, xử lý và tiêu thụ phù hợp.
Để những mô hình tương tự được nhân rộng, việc hoàn thiện cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ cần được triển khai đồng thời với đầu tư hạ tầng. Trưởng Ban Thị trường và ngành hàng (Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường) Trần Thị Thanh Nhàn cho rằng, cần xây dựng hệ thống dữ liệu, đo lường và giám sát thất thoát ở cấp quốc gia nhằm xác định rõ quy mô, nguyên nhân và những công đoạn phát sinh tổn thất. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành cần tăng cường phối hợp trong xây dựng chính sách, đồng thời thiết kế những công cụ tài chính và giải pháp công nghệ phù hợp với từng ngành hàng.
Vai trò của chính quyền địa phương và khu vực tư nhân cũng cần được phát huy rõ nét hơn. Trong đó, địa phương cần chủ động tổ chức vùng nguyên liệu gắn với hạ tầng bảo quản, còn doanh nghiệp có thể tham gia đầu tư kho lạnh, cơ sở sơ chế, chế biến và dịch vụ logistics chuyên biệt. Sự phối hợp giữa các chủ thể sẽ giúp hạn chế tình trạng đầu tư phân tán, thiếu liên kết và nâng cao hiệu quả khai thác công suất hạ tầng.
Theo Vụ trưởng Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, nâng tỷ lệ cơ giới hóa và chế biến sâu; phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn; đồng thời mở rộng hệ thống logistics phục vụ lưu thông hàng hóa và ứng dụng khoa học - công nghệ trong xử lý phụ phẩm.
Định hướng này cũng phù hợp với mục tiêu tại Quyết định 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 về Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu đưa chi phí logistics xuống tương đương 12-15% GDP vào năm 2035.
Đối với ngành nông nghiệp, giảm chi phí logistics cần đi cùng mục tiêu giảm tổn thất và duy trì chất lượng hàng hóa trong suốt quá trình lưu thông. Khi hạ tầng được kết nối, công nghệ bảo quản được cải thiện và chuỗi cung ứng vận hành đồng bộ, nông sản Việt Nam sẽ có thêm điều kiện đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Quan trọng hơn, giá trị tạo ra từ sản xuất sẽ được giữ lại nhiều hơn, thay vì bị hao hụt bởi những điểm nghẽn kéo dài từ đồng ruộng đến cửa khẩu.