Hoàn thiện thể chế, mở rộng dư địa phát triển kinh tế biển bền vững

Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tháo gỡ những bất cập trong quản lý, khai thác tài nguyên, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các ngành kinh tế biển. Tuy nhiên, cùng với mở rộng không gian phát triển, yêu cầu kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, lưu vực sông đến biển cũng đặt ra cấp thiết, đòi hỏi cơ chế quản lý đồng bộ và trách nhiệm liên ngành rõ ràng.
kinh-te-bien-ben-vung-1793848883.jpg
Mở rộng dư địa kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường.

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực từ biển

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km, gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ và vùng biển rộng gần 1 triệu km2. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển hàng hải, logistics, du lịch, thủy sản, công nghiệp ven biển và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, việc chuyển hóa tiềm năng thành giá trị kinh tế vẫn gặp không ít trở ngại khi cơ chế quản lý tài nguyên, phân bổ không gian biển và phối hợp giữa các ngành, địa phương còn những điểm chưa đồng bộ.

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội xem xét dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), cùng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Đây được xem là cơ hội quan trọng để hoàn thiện khung pháp lý về quản trị biển, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát ô nhiễm xuyên suốt từ nguồn phát sinh đến khu vực tiếp nhận.

Sáng 24/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội nghe Chính phủ trình bày Tờ trình và Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường báo cáo thẩm tra dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, việc sửa đổi Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, trọng tâm là xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Dự án cũng hướng đến thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp tài nguyên biển, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

bo-truong-bo-tu-phap-1793849037.jpg
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Dự thảo gồm 6 chương, 76 điều, giảm 4 chương và 5 điều so với Luật năm 2015. Các nội dung sửa đổi tập trung vào quản lý không gian biển, giao và cho thuê khu vực biển, sử dụng biển đa mục đích, đăng ký quyền sử dụng và kết nối dữ liệu quản lý.

Những điều chỉnh này xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, thay cho cách tiếp cận phân tán theo từng ngành, lĩnh vực. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật cần tạo điều kiện để các nguồn lực biển được phân bổ hợp lý, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và lợi ích quốc gia.

Một trong những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động đầu tư là cơ chế xác lập quyền sử dụng khu vực biển. Dự thảo quy định ba hình thức gồm giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Bên cạnh đó, các quy định về đấu giá, chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn và thế chấp quyền sử dụng khu vực biển được kỳ vọng mở rộng khả năng huy động vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đối với những dự án có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn dài như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp hay hạ tầng cảng biển, tính ổn định của quyền sử dụng không gian biển là yếu tố đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, tại báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho rằng cần tiếp tục làm rõ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ tương ứng với từng hình thức sử dụng biển. Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị bổ sung quy định về quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn và mối quan hệ giữa quyền sử dụng khu vực biển với giấy phép chuyên ngành.

Một vấn đề khác được đặt ra là cơ chế quản lý đối với những khu vực biển được khai thác đồng thời cho nhiều mục đích như hàng hải, thủy sản, dầu khí, điện gió, du lịch, quốc phòng và bảo tồn. Theo cơ quan thẩm tra, Quy hoạch không gian biển quốc gia cần giữ vai trò định hướng phân bổ không gian, trong khi giấy phép chuyên ngành quyết định các điều kiện hoạt động cụ thể. Việc xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính và thẩm quyền quyết định khi phát sinh xung đột sẽ hạn chế tình trạng chồng chéo trong quản lý.

Cùng với cơ chế sử dụng biển, dự thảo đề xuất ưu đãi cho các lĩnh vực có tiềm năng tạo giá trị gia tăng cao như nuôi biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo ngoài khơi, cảng biển xanh, vận tải biển phát thải thấp, du lịch biển bền vững và nghiên cứu công nghệ biển. Các chính sách hỗ trợ được đề cập gồm miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển, ưu đãi thuế, tiếp cận hạ tầng, dữ liệu, tài chính xanh, tín dụng xanh và chuyển giao công nghệ.

Đáng chú ý, Điều 45 đề xuất hình thành Quỹ không gian biển trên cơ sở những khu vực đã được điều tra, khảo sát, đánh giá và xác định mục đích ưu tiên sử dụng. Cách tiếp cận này giúp Nhà nước chủ động chuẩn bị các điều kiện ban đầu, thay vì để doanh nghiệp tự tìm kiếm địa điểm và thực hiện toàn bộ quá trình khảo sát trước khi triển khai dự án. Dự thảo cũng đề cập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh tế, công nghệ biển mới và khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám, quan trắc thông minh.

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải lưu ý các quy định về ưu đãi, hỗ trợ và Quỹ không gian biển vẫn cần được cụ thể hóa về tiêu chí, đối tượng, mức độ và thời hạn áp dụng để bảo đảm khả thi, minh bạch. Cơ quan thẩm tra đồng thời đề nghị làm rõ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh doanh xanh, kinh tế tuần hoàn và yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường theo định hướng tại Kết luận số 75-KL/TW.

Kiểm soát ô nhiễm từ đầu nguồn, bảo vệ môi trường biển từ sớm

Mở rộng không gian khai thác kinh tế biển đồng nghĩa với việc gia tăng áp lực lên môi trường. Đáng lưu ý, ô nhiễm biển không chỉ bắt nguồn từ các hoạt động diễn ra trên mặt nước mà còn có thể xuất phát từ những nguồn thải sâu trong đất liền, sau đó lan truyền qua hệ thống sông, suối và cửa sông.

Thực tế ứng phó sự cố môi trường cho thấy, một công trình lưu giữ chất thải quặng đuôi ở khu vực miền núi, dù cách biển hàng trăm kilomet, vẫn có thể gây tác động đến vùng biển ven bờ nếu nước mưa chảy tràn, nước thấm hoặc bùn quặng không được kiểm soát. Tương tự, sự cố cháy kho hóa chất có thể tạo ra lượng nước chữa cháy nhiễm hóa chất, theo hệ thống thoát nước phát tán ra môi trường. Trong khi đó, dầu rò rỉ, nước la canh nhiễm dầu và chất thải từ phương tiện thủy cũng là những nguồn gây ô nhiễm tích lũy tại sông và vùng nước ven biển.

chat-thai-1793849125.jpg
Chất thải quặng đuôi nếu không được kiểm soát có thể lan truyền theo hệ thống sông, suối và gây ô nhiễm vùng biển ven bờ.

Điểm đáng chú ý là chất ô nhiễm không vận động theo địa giới hành chính hay ranh giới quản lý của từng ngành. Một dòng sông có thể đi qua nhiều địa phương trước khi đổ ra biển, khiến việc xử lý riêng lẻ tại từng địa bàn khó đạt hiệu quả nếu thiếu cơ chế phối hợp xuyên suốt.

Thời gian phát hiện và khoanh vùng sự cố vì thế có ý nghĩa quyết định. Khi hóa chất còn nằm trong bể chứa, nhà xưởng hoặc hệ thống thoát nước, lực lượng chức năng có thể cô lập, bơm hút và thu gom tương đối thuận lợi. Nhưng khi chất ô nhiễm đã phát tán vào sông lớn hoặc vùng biển rộng, khả năng kiểm soát suy giảm đáng kể, trong khi chi phí xử lý tăng cao.

Đối với dầu, tác động của dòng chảy, sóng và gió có thể khiến vệt dầu nhanh chóng phân tán. Dầu nhẹ như DO có khả năng bay hơi, hòa tan một phần và hình thành các giọt nhỏ trong cột nước; một phần có thể kết hợp với vật chất lơ lửng và trầm tích. Dầu nặng như FO dễ nhận diện hơn nhưng cũng khó thu gom khi lan rộng. Do đó, việc không còn quan sát thấy vệt dầu trên mặt nước không đồng nghĩa chất ô nhiễm đã được loại bỏ hoàn toàn.

Từ thực tiễn này, yêu cầu bảo vệ biển cần được triển khai ngay từ nơi phát sinh chất thải, thông qua nhận diện nguồn nguy cơ, xác định hướng lan truyền và khoanh vùng các khu vực nhạy cảm ở hạ lưu. Bản đồ rủi ro, phương án ứng phó và nguồn lực dự phòng phải gắn với khả năng huy động thực tế, đặc biệt trong những giờ đầu khi sự cố xảy ra.

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đã bổ sung các quy định về kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, lưu vực sông ra biển, quản lý rác thải biển, ô nhiễm xuyên biên giới và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu. Các quy định về bảo vệ tài nguyên vùng bờ, phân vùng rủi ro và ứng phó sự cố cũng cần được triển khai đồng bộ với Luật Bảo vệ môi trường.

Tại phiên thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải đề nghị bổ sung nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan về nguồn thải, kết quả quan trắc và sự cố môi trường. Đặc biệt, dự thảo cần làm rõ phương pháp đánh giá sức chịu tải của môi trường biển, dữ liệu đầu vào và các ngưỡng cần kiểm soát. Bởi ngay cả khi từng nguồn thải riêng lẻ đáp ứng quy chuẩn, tổng lượng chất thải tại một khu vực vẫn có thể vượt quá khả năng tiếp nhận của hệ sinh thái. Kết quả đánh giá sức chịu tải cần trở thành căn cứ trong lập quy hoạch, cấp phép và quyết định giao, cho thuê khu vực biển.

Bên cạnh đó, việc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương trong kiểm soát nguồn thải và ứng phó sự cố là yêu cầu không thể thiếu. Cùng với bảo vệ hệ sinh thái, dự thảo cũng đặt ra chính sách hỗ trợ cộng đồng ven biển, hải đảo thông qua đào tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển mô hình sản xuất mới và chuyển đổi sinh kế, nhằm bảo đảm người dân được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển.

Đăng ký đặt báo