
Liên kết chuỗi để hình thành vùng nguyên liệu có tổ chức
Ngày 18/8/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn phối hợp với Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức hội thảo “Thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện đề án, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư”.
Với Chủ đề: “Giải pháp công nghệ, cơ giới và vốn”, hội thảo tập trung phân tích những điểm nghẽn trong quá trình triển khai Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, trong đó nổi bật là yêu cầu nâng chất lượng liên kết sản xuất, mở rộng vai trò doanh nghiệp và tổ chức lại vùng nguyên liệu theo nhu cầu thị trường.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Minh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, cần đẩy mạnh các hợp đồng liên kết theo chuỗi, gắn sản xuất với tiêu chuẩn chất lượng, hỗ trợ kỹ thuật và cam kết thu mua. Theo đó, vùng nguyên liệu không thể chỉ được xác định bằng diện tích, mà phải gắn với lợi thế địa phương, điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường.

Thực tế triển khai cho thấy doanh nghiệp đang tham gia ngày càng sâu vào tổ chức sản xuất, từ cung cấp máy móc, thiết bị cơ giới hóa đến giải pháp công nghệ và quy trình kỹ thuật. Đây là một trong những điều kiện để các khâu đầu vào, sản xuất, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ được kết nối trong cùng một chuỗi giá trị.
Theo ông Nguyễn Tiến Định - Trưởng phòng Kinh tế hợp tác và Trang trại, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, đến tháng 6/2026 có khoảng 1.129 hợp tác xã, tổ hợp tác và hơn 210 doanh nghiệp tham gia Đề án. Khoảng 600 hợp tác xã, tổ hợp tác đã liên kết sản xuất - tiêu thụ lúa gạo với doanh nghiệp, với diện tích liên kết chiếm khoảng 60-70% diện tích thực hiện Đề án.

Tuy nhiên, số lượng chủ thể tham gia chưa đồng nghĩa với chất lượng và tính bền vững của các mối liên kết. Năng lực quản trị của một bộ phận hợp tác xã còn hạn chế, trong khi biến động giá và thị trường có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết giữa các bên.
Vì vậy, hợp đồng liên kết cần được xem là công cụ quản trị chuỗi, trong đó xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi, tiêu chuẩn sản phẩm, phương thức giao nhận, thanh toán và cơ chế chia sẻ rủi ro. Hợp tác xã cần từng bước trở thành hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu; doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường và đầu tư; nông dân là chủ thể sản xuất; Nhà nước kiến tạo thể chế, hạ tầng và môi trường đầu tư.
Liên kết doanh nghiệp để nâng hiệu quả canh tác
Theo ông Phan Văn Tâm - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, để thực hiện hiệu quả Đề án, cần hình thành mô hình liên kết nhóm doanh nghiệp. Theo đó, mỗi doanh nghiệp phát huy thế mạnh ở từng công đoạn, từ giống, phân bón, quản lý dịch hại đến cơ giới hóa, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ.


Từ thực tiễn chương trình “Canh tác lúa thông minh”, ông Phan Văn Tâm cho rằng sự phối hợp giữa doanh nghiệp, khuyến nông, cán bộ kỹ thuật và nông dân có thể tạo ra quy trình sản xuất linh hoạt, cập nhật tiến bộ khoa học - công nghệ và thích ứng với điều kiện sinh thái, thị trường. Chương trình từng được triển khai với 494 mô hình tại 13 tỉnh, thành ĐBSCL qua 7 vụ Đông Xuân và Hè Thu trong giai đoạn 2016-2022.
Kết quả mô hình vụ Đông Xuân 2023-2024 cho thấy năng suất tăng khoảng 0,51 tấn/ha, chi phí giảm 1,3 triệu đồng/ha và lợi nhuận tăng 6,4 triệu đồng/ha. Cùng với đó, phát thải giảm gần 25%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 1,4 lần, lượng phân đạm giảm 35 kg/ha và lượng giống gieo sạ giảm 82 kg/ha.
Các kết quả trên cho thấy hiệu quả của canh tác thông minh cần được nhìn nhận đồng thời ở các khía cạnh kinh tế, môi trường và tổ chức sản xuất. Giảm chi phí đầu vào, nâng lợi nhuận và giảm phát thải cần được đặt trong cùng một quy trình để tạo giá trị bền vững cho chuỗi lúa gạo.

Cùng với đó, việc sử dụng phân bón hợp lý, quản lý rơm rạ, giảm phát thải N₂O và CH₄, áp dụng tưới ngập - khô xen kẽ là những giải pháp được đặt ra nhằm hướng sản xuất lúa tới mô hình tuần hoàn, phát thải thấp.
Cơ giới hóa, công nghệ gắn với vùng nguyên liệu
Từ góc độ cơ giới hóa, ông Võ Trung Lập - Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Cơ khí Nông nghiệp Phan Tấn, cho rằng: quá trình thực hiện Đề án đang đặt ra yêu cầu chuyển đổi từ phương thức sản xuất truyền thống sang quy trình mới, đặc biệt ở khâu canh tác và xử lý rơm rạ sau thu hoạch.
Điểm nghẽn đáng chú ý là vốn đầu tư ban đầu. Khi chuyển sang thiết bị mới, doanh nghiệp và HTX phải đồng thời giải quyết bài toán máy móc cũ, chi phí đầu tư và hiệu quả khai thác thiết bị. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, quá trình chuyển đổi cơ giới hóa có thể diễn ra chậm hơn yêu cầu của Đề án.

Theo ông Lập, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ đầu tư cơ giới hóa theo hướng phù hợp với quá trình chuyển đổi sang kinh tế hợp tác, đồng thời có lộ trình để các chủ thể sản xuất hiện hữu tiếp tục tham gia. Việc triển khai song song trong giai đoạn đầu có thể giúp quá trình chuyển đổi diễn ra linh hoạt hơn; khi HTX đủ năng lực, chính sách có thể từng bước tập trung vào các mô hình dịch vụ cơ giới hóa trong kinh tế hợp tác.
Đặc biệt, cơ giới hóa cần gắn với quy trình xử lý rơm rạ sau thu hoạch. Đây vừa là yêu cầu kỹ thuật, vừa liên quan trực tiếp đến mục tiêu giảm phát thải của Đề án.
Đại diện Công ty Sài Gòn Kim Hồng đề xuất chuyển từ tư duy hỗ trợ dịch vụ đơn thuần sang mô hình liên kết sản xuất và dịch vụ trong toàn chuỗi. Theo đại diện doanh nghiệp, sự phối hợp giữa doanh nghiệp, địa phương, hợp tác xã và các đối tác kỹ thuật có thể hình thành mạng lưới hỗ trợ, thay vì để các chủ thể hoạt động riêng lẻ.
Doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế đầu tư, quản lý và khai thác máy móc sau đầu tư thông qua hợp tác xã, tổ chức dịch vụ và vùng sản xuất. Khi cơ giới hóa gắn với vùng nguyên liệu, hiệu suất sử dụng thiết bị có thể được nâng lên, đồng thời giảm chi phí dịch vụ cho nông dân.

Cùng với cơ giới hóa, công nghệ số, truy xuất nguồn gốc và hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm tra (MRV) đang trở thành những cấu phần quan trọng của sản xuất lúa phát thải thấp. Thiết bị cảm biến, hạ tầng kết nối và các giải pháp số có thể hỗ trợ ghi nhận dữ liệu tại đồng ruộng, theo dõi quy trình sản xuất và nâng cao tính minh bạch.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi người nông dân có thể tiếp cận và sử dụng thuận tiện. Vì vậy, cùng với đầu tư thiết bị và nền tảng số, cần chú trọng đào tạo và chuyển giao kỹ thuật theo hướng trực quan, dễ hiểu, gắn với lợi ích kinh tế cụ thể. Việc ghi nhận dữ liệu và thực hiện các biện pháp giảm phát thải không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch và giá trị sản phẩm trên thị trường.
Gỡ điểm nghẽn tín dụng để mở rộng đầu tư
Vốn tiếp tục là một trong những nút thắt của quá trình tái tổ chức ngành hàng lúa gạo.
Ông Nguyễn Trần Thức - Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau, cho biết: nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp gặp khó trong tiếp cận tín dụng do hạn chế về tài sản bảo đảm, hồ sơ chứng minh đầu ra và khả năng kiểm soát dòng tiền.

Để cải thiện khả năng tiếp cận vốn, cần tăng kết nối giữa ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ quan quản lý; đồng thời minh bạch, chuẩn hóa thông tin về phương án sản xuất, hợp đồng liên kết, sản lượng, đầu ra và dòng tiền. Đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng đánh giá hiệu quả và rủi ro, từ đó mở rộng dòng vốn vào chuỗi giá trị.
Khi vùng nguyên liệu có hợp đồng ổn định, dữ liệu sản xuất rõ ràng và đầu ra được xác lập, tín dụng có thể được tiếp cận theo chuỗi thay vì chỉ dựa vào từng hộ sản xuất riêng lẻ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với đầu tư cơ giới hóa, công nghệ và hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu.
Cùng với nguồn vốn tín dụng, việc tổ chức lại dịch vụ cơ giới hóa theo hướng gắn với hợp tác xã và vùng sản xuất cũng có thể tạo điều kiện nâng hiệu quả sử dụng máy móc, giảm chi phí và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ của nông dân.
Chất lượng quyết định giá trị, thị trường quyết định sức bền chuỗi
Từ góc độ thị trường, ông Huỳnh Út Phi Châu - Tổng Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ cho rằng, mục tiêu cuối cùng của tổ chức lại sản xuất là nâng thu nhập cho người nông dân.
Theo hướng tiếp cận này, liên kết “bốn nhà”, “năm nhà” cần chuyển từ phối hợp hình thức sang phân công rõ trách nhiệm. Doanh nghiệp kết nối nhu cầu thị trường; hợp tác xã tổ chức vùng nguyên liệu; nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn; Nhà nước kiến tạo chính sách, hạ tầng và môi trường đầu tư.

Giá trị hạt gạo trước hết được hình thành từ chất lượng ổn định và khả năng đáp ứng đúng nhu cầu của từng thị trường. Thương hiệu, chế biến, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản xuất xanh sẽ tạo thêm giá trị khi nền tảng chất lượng được bảo đảm.
Từ góc nhìn này, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng diện tích, mà là xây dựng những vùng nguyên liệu có tổ chức. Một vùng nguyên liệu có sức hút đầu tư cần hội tụ thị trường, hợp tác xã, doanh nghiệp, hợp đồng, hạ tầng, dịch vụ cơ giới hóa và dữ liệu quản lý.
Những vấn đề được đặt ra tại hội thảo cho thấy Đề án 1 triệu héc-ta đang bước vào giai đoạn đòi hỏi cao hơn về chất lượng tổ chức sản xuất. Trọng tâm không chỉ là mở rộng diện tích, mà là xây dựng những vùng nguyên liệu có khả năng vận hành theo chuỗi, tạo giá trị và phân bổ lợi ích hợp lý giữa các chủ thể.

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, hạ tầng và chính sách hỗ trợ; doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đầu tư, thị trường và dịch vụ; hợp tác xã nâng năng lực tổ chức vùng nguyên liệu; nông dân được tiếp cận kỹ thuật, công nghệ và thông tin thị trường. Trong khi đó, tín dụng cần bám sát dòng tiền, còn công nghệ phải tạo được hệ thống dữ liệu đủ tin cậy để minh chứng cho kết quả sản xuất phát thải thấp.
Đặc biệt, liên kết doanh nghiệp cần được mở rộng từ khâu tiêu thụ sang đầu tư và cung ứng dịch vụ. Giống, vật tư đầu vào, cơ giới hóa, thu hoạch, xử lý rơm rạ, công nghệ, chế biến và tiêu thụ cần được kết nối trong một cấu trúc thống nhất.
Khi các mắt xích vận hành đồng bộ, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp có thể tạo ra những chuyển biến thực chất: giảm chi phí sản xuất, giảm phát thải, nâng chất lượng, gia tăng giá trị hạt gạo và cải thiện thu nhập cho nông dân ĐBSCL.