
Hướng tới mặt bằng giờ làm 40-44 giờ mỗi tuần
Trong hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Lưu trữ, Luật Bình đẳng giới và Luật Hoạt động Chữ thập đỏ do Bộ Nội vụ xây dựng, Sở Nội vụ Sơn La đề xuất nghiên cứu lộ trình điều chỉnh thời giờ làm việc bình thường của người lao động khu vực tư nhân xuống còn 40-44 giờ mỗi tuần. Theo cơ quan này, việc thay đổi cần được thực hiện song song với các giải pháp nâng năng suất lao động nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao.
Dự thảo hiện đang được Bộ Tư pháp thẩm định và dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp tháng 10-2026. Đề xuất của Sơn La cũng tương đồng với kiến nghị từng được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đưa ra tại Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam hồi tháng 6-2026, trong đó đề nghị xây dựng lộ trình giảm thời giờ làm việc của lao động khu vực tư nhân xuống 40-44 giờ mỗi tuần, tạo sự thống nhất với khu vực công.
Theo quy định hiện hành, Bộ luật Lao động 2019 giới hạn thời giờ làm việc bình thường ở mức không quá 8 giờ mỗi ngày và 48 giờ mỗi tuần. Doanh nghiệp có thể lựa chọn chế độ làm việc theo ngày hoặc theo tuần, nhưng phải thông báo cho người lao động. Trường hợp áp dụng theo tuần, thời gian làm việc trong ngày có thể lên tới 10 giờ, song tổng thời gian vẫn không được vượt quá 48 giờ mỗi tuần. Nhà nước hiện khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.
Trong khi đó, khu vực công đã áp dụng chế độ làm việc 40 giờ mỗi tuần từ năm 1999. Sự khác biệt kéo dài giữa hai khu vực là một trong những cơ sở khiến đề xuất thu hẹp khoảng cách về thời gian lao động tiếp tục được đặt ra.
Luật sư Lê Đình Quảng, nguyên Phó ban Chính sách pháp luật Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, cho rằng quy định 48 giờ mỗi tuần đã được duy trì từ Bộ luật Lao động năm 1994, trong khi khu vực công đã giảm thời gian làm việc từ nhiều năm trước. Theo ông, việc Nhà nước chỉ khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện rút ngắn giờ làm chưa tạo được chuyển biến đáng kể.
"Đây là lúc cần đặt ra lộ trình giảm giờ làm cụ thể thay vì chỉ dừng ở mức khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện", ông Quảng nói.
Ông Quảng nhận định Việt Nam hiện đã bước sang giai đoạn phát triển mới sau nhiều năm đổi mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nhân lực ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh. Vì vậy, giảm giờ làm không chỉ nhằm tăng thời gian nghỉ ngơi mà còn là cách phân bổ hợp lý hơn thành quả phát triển kinh tế - xã hội.
Đề xuất này cũng được Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ nhìn nhận trong bối cảnh Việt Nam cần thay đổi lợi thế cạnh tranh. Theo ông, nền kinh tế không thể mãi dựa vào nguồn nhân công giá rẻ và thời gian lao động kéo dài, mà cần nâng vị thế của người lao động trong chuỗi giá trị toàn cầu thông qua đào tạo và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Giảm từng bước, song hành với nâng năng suất
Dữ liệu từ Điều tra lao động việc làm năm 2024 của Cơ quan thống kê quốc gia cho thấy thời gian làm việc bình quân của lao động có xu hướng tăng, từ 42,2 giờ mỗi tuần năm 2022 lên 42,5 giờ năm 2024. Khoảng 46% lao động làm việc từ 40-48 giờ mỗi tuần, trong khi gần 29% làm việc trên 48 giờ. Đáng chú ý, quý IV/2024, lao động tại khu vực FDI có thời gian làm việc bình quân hơn 50 giờ mỗi tuần, cao hơn khu vực ngoài nhà nước với 42,5 giờ và khu vực nhà nước với 43,3 giờ.
Từ thực tế này, các chuyên gia cho rằng việc giảm giờ làm cần được thiết kế theo từng giai đoạn để tránh gây xáo trộn hoạt động sản xuất. Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ đề xuất trước mắt giảm từ 48 xuống 44 giờ, sau đó tiến tới 40 giờ mỗi tuần. Cách tiếp cận từng bước sẽ tạo khoảng thời gian để doanh nghiệp đầu tư công nghệ, cải tiến máy móc và tổ chức lại quy trình sản xuất nhằm bù đắp phần thời gian lao động bị rút ngắn.
"Lộ trình giảm giờ làm nên đồng bộ với quá trình nâng năng suất và chất lượng nguồn lực, đổi mới công nghệ thay vì là chính sách tách rời", ông Hạ nói.
Theo ông Hạ, chính sách giảm giờ làm cũng cần được đánh giá dựa trên đặc thù của từng ngành, mức thu nhập, năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trước khi triển khai, cần đánh giá tác động đầy đủ và lấy ý kiến trực tiếp từ người lao động cũng như người sử dụng lao động để cân bằng lợi ích.
Luật sư Lê Đình Quảng cũng nghiêng về phương án chuyển đổi từng bước. Ông cho rằng trong giai đoạn trước mắt, thời giờ làm việc nên được đưa xuống dưới 48 giờ và từng bước tiệm cận mức 40 giờ của khu vực nhà nước. Về dài hạn, Việt Nam có thể hướng tới mức dưới 40 giờ mỗi tuần vào năm 2045, qua đó giúp doanh nghiệp có đủ thời gian điều chỉnh kế hoạch sản xuất và nhân sự.
Ông Quảng đề xuất có thể giảm xuống 44 giờ mỗi tuần từ nay đến năm 2030, sau đó nghiên cứu tiến tới 40 giờ. Theo ông, thay vì kéo dài thời gian lao động để thúc đẩy tăng trưởng, doanh nghiệp cần dựa nhiều hơn vào công nghệ, quản trị hiện đại và nâng cao kỹ năng của người lao động.
"Khi giảm giờ làm, người lao động sẽ có thêm điều kiện học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, từ đó góp phần tăng năng suất lao động" - ông Quảng nêu quan điểm.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giảm giờ làm thường gắn với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nhật Bản từng đưa thời gian làm việc từ 48 xuống 40 giờ trong lộ trình 10 năm, từ 1987 đến 1997. Hàn Quốc cũng chuyển dần từ tuần làm việc 44 giờ sang chế độ 5 ngày, hướng tới 40 giờ từ năm 2004. Tại Bỉ, mức 38 giờ mỗi tuần được áp dụng theo cơ chế linh hoạt, cho phép doanh nghiệp duy trì lịch 40 giờ nhưng bố trí ngày nghỉ bù.
Bên cạnh giảm thời gian làm việc, Sở Nội vụ Sơn La còn đề nghị bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động liên quan đến bữa ăn ca, chăm sóc sức khỏe tâm thần, hỗ trợ giảm căng thẳng và phòng ngừa kiệt sức tại nơi làm việc. Cơ quan này cũng đề xuất mở rộng các hình thức làm việc linh hoạt, kết hợp trực tiếp và trực tuyến, phù hợp với sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo.
Những đề xuất trên cho thấy giảm giờ làm đang được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ thời lượng lao động mà còn trong mối quan hệ với năng suất, sức khỏe, thu nhập và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Một lộ trình đủ dài, đi cùng đổi mới công nghệ và nâng chất lượng nhân lực, được kỳ vọng sẽ giúp quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi hơn, thay vì tạo áp lực đột ngột lên doanh nghiệp.