
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào giữa thế kỷ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trong đó đáng chú ý là đề xuất điều chỉnh chu kỳ kiểm kê khí nhà kính tại cấp cơ sở từ hai năm một lần sang thực hiện hằng năm. Đây được xem là bước thay đổi quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dữ liệu phát thải và tăng hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường.
Theo quy định hiện hành, các cơ sở thuộc danh mục phát thải khí nhà kính có trách nhiệm tổ chức kiểm kê, xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải và báo cáo định kỳ hai năm một lần về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 1/12 của kỳ báo cáo. Tuy nhiên, quá trình tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cho thấy cơ chế này bộc lộ nhiều hạn chế. Việc giãn chu kỳ kiểm kê khiến dữ liệu thiếu tính liên tục, giảm độ chính xác và gây khó khăn trong công tác theo dõi, phân bổ hạn ngạch phát thải cũng như đánh giá hiệu quả giảm phát thải và hấp thụ carbon.
Không chỉ dừng lại ở cấp cơ sở, những bất cập còn thể hiện rõ trong công tác quản lý ở cấp địa phương. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về kiểm kê khí nhà kính cấp tỉnh, dẫn đến việc các địa phương thiếu công cụ để đánh giá tổng thể lượng phát thải trên địa bàn, từ đó gặp khó khăn trong xây dựng kế hoạch giảm phát thải phù hợp với điều kiện thực tế. Trong khi đó, danh mục các cơ sở phát thải khí nhà kính vẫn được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ ngành xây dựng và cập nhật định kỳ hai năm một lần, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Cách làm này bị đánh giá là chưa đáp ứng yêu cầu phân cấp, phân quyền và thiếu tính linh hoạt trong quản lý.
Một vấn đề khác được chỉ ra là việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính hiện đang tập trung chủ yếu vào Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Điều này vô hình trung tạo áp lực cho một cơ quan phải quản lý nhiều lĩnh vực khác nhau, trong khi các bộ chuyên ngành lại là đơn vị nắm rõ nhất về công nghệ, năng lực sản xuất và mức độ phát thải của doanh nghiệp trong phạm vi quản lý của mình.
Trên cơ sở những bất cập nêu trên, dự thảo luật lần này đề xuất cải cách mạnh mẽ theo hướng chuyển từ tư duy “giảm nhẹ phát thải” sang “quản lý phát thải khí nhà kính” một cách toàn diện. Cách tiếp cận mới bao trùm toàn bộ chu trình từ kiểm kê, giảm phát thải đến phát triển thị trường carbon, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý.
Đáng chú ý, chu kỳ kiểm kê khí nhà kính được rút ngắn xuống thực hiện hằng năm và triển khai trên nền tảng trực tuyến. Các cơ sở thuộc danh mục phát thải sẽ phải cập nhật dữ liệu lên hệ thống báo cáo quốc gia trước ngày 31/3 của năm sau kỳ kiểm kê. Kết quả kiểm kê sau đó sẽ được đơn vị thẩm định độc lập xác nhận và cập nhật lên hệ thống dữ liệu quốc gia, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin.
Song song với đó, dự thảo cũng mở rộng phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao trách nhiệm lập và ban hành danh mục cơ sở phát thải trên địa bàn trước ngày 31/12 hằng năm, đồng thời thực hiện kiểm kê khí nhà kính cấp tỉnh theo chu kỳ hàng năm và cập nhật dữ liệu lên hệ thống chung trước ngày 30/6 năm kế tiếp. Đây là bước đi quan trọng nhằm nâng cao vai trò của địa phương trong quản lý phát thải, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào trung ương như trước đây.
Ở cấp bộ, các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cũng sẽ phải thực hiện kiểm kê hằng năm đối với phạm vi phụ trách, tổng hợp số liệu và gửi báo cáo trước ngày 30/6 năm tiếp theo. Đồng thời, các bộ có trách nhiệm đề xuất đóng góp giảm phát thải trong lĩnh vực quản lý để phục vụ xây dựng cam kết quốc gia về khí hậu, cũng như ban hành hướng dẫn kỹ thuật về đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.
Hiện theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg, cả nước có khoảng 2.166 cơ sở thuộc diện phải kiểm kê khí nhà kính. Với khối lượng dữ liệu lớn như vậy, việc chuyển sang hệ thống báo cáo trực tuyến được kỳ vọng sẽ giảm tải thủ tục hành chính, đồng thời tăng tính chính xác và kịp thời trong công tác tổng hợp số liệu.
Bên cạnh nhóm bắt buộc, Nhà nước cũng khuyến khích các cơ sở chưa thuộc danh mục kiểm kê tham gia thực hiện hằng năm và cập nhật dữ liệu trên hệ thống quốc gia. Điều này không chỉ giúp mở rộng phạm vi giám sát phát thải mà còn thúc đẩy cộng đồng doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình chuyển đổi xanh và tiếp cận thị trường carbon trong tương lai.