
Đặt doanh nghiệp vào trung tâm, đo hiệu quả bằng năng lực phát triển
Tại phiên họp ngày 28/8/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng. Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng việc thay đổi tên luật không chỉ mang ý nghĩa về mặt kỹ thuật mà phản ánh sự chuyển biến trong tư duy xây dựng chính sách.
Theo đó, sau gần 10 năm áp dụng, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã tạo được nền tảng pháp lý quan trọng nhưng quá trình triển khai vẫn bộc lộ tình trạng chính sách phân tán, chưa sát nhu cầu và khó đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ. Dự thảo mới vì vậy hướng tới thay đổi từ tư duy Nhà nước cung cấp những gì mình có sang đáp ứng những gì doanh nghiệp thực sự cần.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định, chính sách hỗ trợ không chỉ tập trung gia tăng số lượng doanh nghiệp, mà cần tập trung nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị và khả năng phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hơn.
Dự thảo gồm 5 chương, 35 điều, thiết kế chính sách theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, từ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, doanh nghiệp siêu nhỏ tiến lên quy mô nhỏ, vừa và lớn. Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi thước đo hiệu quả: thay vì chỉ tính số doanh nghiệp được hưởng chính sách, cần quan tâm doanh nghiệp có thực sự tăng trưởng, nâng cao năng lực và hấp thụ được nguồn lực hay không.
Một nội dung được quan tâm là tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dự thảo đề xuất bỏ tiêu chí tổng nguồn vốn, giữ điều kiện về số lao động bình quân năm không quá 300 người và kết hợp với doanh thu hoặc vốn. Nhóm doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ, doanh nghiệp thực hành ESG và hộ kinh doanh chuyển đổi cũng được tính đến trong diện ưu tiên.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá việc đơn giản hóa tiêu chí là hướng phù hợp với quá trình chuyển đổi số, đồng thời giúp tăng khả năng đối chiếu dữ liệu và giảm thủ tục. Tuy nhiên, ông lưu ý ngưỡng doanh thu 400 tỷ đồng có thể khiến những doanh nghiệp đã có tiềm lực tài chính vẫn thuộc nhóm thụ hưởng, trong khi tiêu chí lao động chưa phản ánh đúng đặc thù của doanh nghiệp công nghệ cao.
Từ thực tế này, Chủ tịch Quốc hội đề nghị nghiên cứu thêm các chỉ số về giá trị gia tăng, tỷ lệ chi phí R&D trên doanh thu và xây dựng cơ chế “trưởng thành”. Theo đó, nếu doanh nghiệp liên tục vượt ngưỡng trong 2-3 năm thì cần được đưa ra khỏi diện hỗ trợ để nguồn lực tập trung cho những doanh nghiệp thực sự cần.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cũng cho rằng tiêu chí cần tính đến những mô hình kinh doanh mới, trong đó có doanh nghiệp nền tảng hoặc các đơn vị sử dụng nhiều lao động thời vụ. Đồng thời, cần hình thành hệ thống dữ liệu đủ để đánh giá tác động của chính sách sau khi triển khai.
Gỡ nút thắt vốn, mở rộng không gian cho doanh nghiệp đổi mới
Trong khi tiêu chí thụ hưởng được thiết kế lại, bài toán vốn vẫn là một trong những trở ngại lớn đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dù chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp, khu vực này mới tiếp cận khoảng 19-20% tổng dư nợ tín dụng. Rào cản tài sản thế chấp truyền thống khiến nhiều doanh nghiệp công nghệ, dịch vụ và thương mại điện tử gặp khó khi muốn mở rộng hoạt động.
Dự thảo luật đưa ra hướng tiếp cận mới khi khuyến khích tổ chức tín dụng xem xét cho vay dựa trên dòng tiền, chuỗi giá trị, tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ và tài sản số. Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý muốn chính sách đi vào thực tế phải giải quyết được bài toán định giá tài sản vô hình và chia sẻ rủi ro tín dụng.

TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhận định, cần chuyển từ tư duy hỗ trợ hành chính sang việc nâng cao năng lực nội sinh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi phải tháo gỡ rào cản tài sản thế chấp giúp khơi thông dòng vốn tín dụng. Việc dựa trên dữ liệu thật như hóa đơn điện tử và dòng tiền sẽ giúp đánh giá rủi ro chính xác hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động minh bạch có thể tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ các ngân hàng thương mại mà không bị ràng buộc quá cứng nhắc về tài sản thế chấp truyền thống.
Cùng với vốn, chuyển đổi số và ESG được xem là những hướng đi quan trọng để doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng sức cạnh tranh. Dự thảo chuyển phương thức hỗ trợ từ Nhà nước trực tiếp cung cấp dịch vụ sang cơ chế phiếu hỗ trợ, để doanh nghiệp tự lựa chọn đơn vị đào tạo, tư vấn hoặc cung cấp giải pháp. Ngân sách được thanh toán dựa trên kết quả, chất lượng và mức độ hài lòng, qua đó hạn chế cơ chế “xin - cho”.
Ở góc độ phản biện chính sách, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kiêm Trưởng Ban pháp chế kiến nghị, phải định lượng hóa được các hỗ trợ và cần bổ sung các quy định mới có tính thực chiến cao như “tài trợ chuyển giao công nghệ theo cụm liên kết” hay “thí điểm cơ chế Sandbox, miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro khách quan khi đổi mới sáng tạo”.
Để những định hướng này không dừng lại trên giấy, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội; đồng thời rà soát toàn bộ vòng đời doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục cho hộ kinh doanh chuyển đổi, tái cấu trúc các quỹ hỗ trợ và bảo lãnh tín dụng.
Việc lấy ý kiến cũng cần được mở rộng tới cộng đồng doanh nghiệp, VCCI, ngân hàng và các chuyên gia. Cùng với đó là cơ chế đánh giá định kỳ, KPI rõ ràng cho địa phương và hệ thống dữ liệu minh bạch. Khi chính sách được đo bằng kết quả phát triển thay vì số lượng hỗ trợ, Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa mới có thể thực sự trở thành nền tảng để khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao sức cạnh tranh và từng bước hình thành những doanh nghiệp có khả năng lớn mạnh trong chuỗi giá trị.