Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã ghi nhận hơn 158.000 sản phẩm

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ghi nhận 158.234 sản phẩm, thuộc 18.524 dòng sản phẩm tại 24/34 tỉnh, thành phố.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đã ghi nhận hơn 158.000 sản phẩm chỉ sau thời gian ngắn chính thức vận hành. Dữ liệu hiện được kết nối từ 24/34 tỉnh, thành phố, với sự tham gia của hàng trăm doanh nghiệp, hộ dân và hợp tác xã.

Đây được xem là bước tiến đáng chú ý trong quá trình số hóa quản lý nông sản, đồng thời tạo nền tảng để kiểm soát nguồn gốc, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản ghi nhận hơn 158.000 sản phẩm

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức được đưa vào sử dụng từ ngày 1/7/2026.

Sau gần 2 tháng vận hành, hệ thống đã ghi nhận 158.234 sản phẩm, thuộc 18.524 dòng sản phẩm. Dữ liệu được kết nối từ 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.

Đây là bước tăng trưởng đáng chú ý nếu so với giai đoạn đầu triển khai. Trước đó, hệ thống mới ghi nhận 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm của 19 doanh nghiệp thực hiện truy xuất và cập nhật dữ liệu.

Có thể khái quát những con số mới nhất như sau:

Chỉ tiêu Kết quả
Sản phẩm được cập nhật 158.234
Dòng sản phẩm 18.524
Doanh nghiệp tham gia 200
Hộ dân, hợp tác xã 2.948
Tỉnh, thành phố đã kết nối 24/34
Thời điểm hệ thống vận hành 1/7/2026

Những con số này cho thấy hệ thống đang nhanh chóng mở rộng phạm vi dữ liệu, thay vì chỉ tập trung vào một số doanh nghiệp lớn.

Đáng chú ý, dữ liệu được hình thành từ nhiều nguồn, bao gồm các doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc và hệ thống do chính doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông sản xây dựng rồi kết nối với hệ thống của Bộ.

truy-xuat-nguon-goc-1-1787452981.jpg
24/34 tỉnh, thành phố đã kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. (Ảnh: BNNMT)

24/34 tỉnh, thành phố đã kết nối dữ liệu

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến nay đã có 24/34 tỉnh, thành phố báo cáo triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản.

Song song với việc các địa phương kết nối dữ liệu, đã có 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc hoàn thành kết nối với hệ thống của Bộ.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp sản xuất, thương mại nông sản lớn cũng đã kết nối hệ thống truy xuất do mình tự phát triển với hệ thống của Bộ, trong đó có Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan và Thiên Vương.

Việc kết nối nhiều hệ thống khác nhau có ý nghĩa quan trọng bởi truy xuất nguồn gốc chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi dữ liệu từ các khâu trong chuỗi sản xuất được liên kết.

Từ vùng sản xuất, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, chế biến đến lưu thông và xuất khẩu, dữ liệu càng đầy đủ thì khả năng kiểm soát nguồn gốc và chất lượng sản phẩm càng cao.

Đây cũng là lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường không chỉ xây dựng một hệ thống để doanh nghiệp nhập dữ liệu, mà hướng tới việc kết nối các hệ thống truy xuất nguồn gốc đang tồn tại, hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất hơn cho ngành nông nghiệp.

Truy xuất nguồn gốc trở thành yêu cầu quan trọng

Trong bối cảnh nông sản Việt Nam ngày càng hướng mạnh tới xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc không còn đơn thuần là công cụ để người tiêu dùng quét mã kiểm tra sản phẩm.

Dữ liệu truy xuất còn liên quan đến khả năng chứng minh sản phẩm được sản xuất ở đâu, bởi ai, theo quy trình nào và trải qua những công đoạn nào trước khi đến tay người tiêu dùng.

Đặc biệt với các mặt hàng xuất khẩu, yêu cầu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và thông tin lô hàng ngày càng quan trọng.

Thực tế, ngành nông nghiệp đang đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc theo chuỗi đối với nhiều ngành hàng, trong đó có những sản phẩm xuất khẩu chủ lực như sầu riêng. Việc kết nối dữ liệu giúp hình thành chuỗi thông tin xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.

Nền tảng cho nông nghiệp số và xuất khẩu

Việc hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản nhanh chóng đạt hơn 158.000 sản phẩm cho thấy chuyển đổi số trong nông nghiệp đang chuyển từ chủ trương sang giai đoạn triển khai thực tế.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc xây dựng và vận hành hệ thống được thực hiện trong bối cảnh triển khai Chương trình số 02-CTr/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cùng các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Khi dữ liệu được tập trung và chuẩn hóa, cơ quan quản lý có thêm công cụ để theo dõi sản phẩm, vùng sản xuất và chuỗi cung ứng.

Đối với doanh nghiệp, truy xuất nguồn gốc có thể trở thành một phần trong quá trình xây dựng thương hiệu và chứng minh chất lượng sản phẩm.

Trong khi đó, người tiêu dùng có thêm cơ sở để kiểm tra thông tin trước khi lựa chọn nông sản.

Đối với thị trường xuất khẩu, hệ thống dữ liệu tập trung cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của đối tác nước ngoài.

Tuy nhiên, để hệ thống phát huy hiệu quả lâu dài, vấn đề quan trọng không chỉ nằm ở số lượng sản phẩm được đưa lên hệ thống, mà còn là chất lượng, tính chính xác và khả năng xác thực của dữ liệu.

Nếu dữ liệu được cập nhật không đầy đủ hoặc thiếu liên kết giữa các khâu trong chuỗi, khả năng truy xuất thực tế sẽ bị hạn chế.

Do đó, giai đoạn tiếp theo cần tiếp tục mở rộng số lượng địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia, đồng thời nâng cao chất lượng dữ liệu được cập nhật.

Việc có 24/34 tỉnh, thành phố tham gia sau gần 2 tháng là tín hiệu tích cực, nhưng cũng cho thấy vẫn còn dư địa lớn để hệ thống mở rộng trên phạm vi toàn quốc.

Với hơn 158.000 sản phẩm và 18.524 dòng sản phẩm đã được ghi nhận, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đang hình thành một kho dữ liệu quan trọng cho quá trình quản lý và phát triển nông nghiệp số.

Trong thời gian tới, việc tiếp tục kết nối dữ liệu giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất sẽ quyết định mức độ hiệu quả của hệ thống.

Truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp trả lời câu hỏi “nông sản này đến từ đâu”, mà còn là công cụ để minh bạch hóa cả chuỗi sản xuất, nâng cao giá trị nông sản Việt và củng cố niềm tin của người tiêu dùng cũng như thị trường quốc tế.

Đăng ký đặt báo