
Từ chăm sóc vật nuôi đến yêu cầu của thị trường
Ngành chăn nuôi đang giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn cung thực phẩm, tạo sinh kế cho người dân và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Sau nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 4,5-6%/năm, sản lượng thịt của Việt Nam hiện vượt 8 triệu tấn, sản lượng trứng đạt 21,1 tỷ quả. Sản phẩm chăn nuôi trong nước đã được xuất khẩu tới 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, với giá trị xuất khẩu năm 2025 đạt 628 triệu USD.
Theo ông Nguyễn Trọng Tuyển, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), những kết quả này cho thấy năng lực sản xuất của ngành đã có bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu về sản lượng, thị trường ngày càng đặt nặng chất lượng, an toàn thực phẩm, tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi mô hình chăn nuôi không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ hay xây dựng các chuỗi liên kết, mà còn đòi hỏi thay đổi cách tiếp cận đối với vật nuôi. Phúc lợi động vật đang trở thành một trong những nội dung được quan tâm ngày càng nhiều, từ khâu nuôi dưỡng, chăm sóc đến vận chuyển, giết mổ và nghiên cứu khoa học.
Tại hội thảo “Phúc lợi động vật - Đề xuất thể chế, chính sách và thực thi” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 23/9/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp cho rằng Việt Nam cần sớm xây dựng cách tiếp cận thống nhất về phúc lợi động vật, đồng thời đưa nội dung này vào quá trình phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững.

TS Hạ Thúy Hạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, cho biết cách nhìn về phúc lợi động vật tại Việt Nam đang dần thay đổi. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là kiểm soát dịch bệnh, nâng cao năng suất và bảo đảm an toàn thực phẩm, thì hiện nay các yêu cầu về sức khỏe, môi trường sống và trạng thái của vật nuôi trong toàn bộ chuỗi sản xuất cũng ngày càng được chú trọng.
Luật Thú y năm 2015 và Luật Chăn nuôi năm 2018 đã đặt ra những quy định liên quan đến chăm sóc, nuôi dưỡng, vận chuyển phù hợp với từng loài, giảm đau đớn, sợ hãi và bảo đảm đối xử nhân đạo với động vật. Tuy nhiên, phạm vi của phúc lợi động vật rộng hơn việc không đánh đập hay gây tổn thương cho vật nuôi. Theo định nghĩa của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), phúc lợi động vật liên quan đến sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường sống, khả năng thể hiện hành vi tự nhiên và trạng thái tinh thần của con vật.
Với quy mô gần 599 triệu con gia cầm, hơn 5,2 triệu tấn thịt lợn và khoảng 20,2 tỷ quả trứng mỗi năm, việc nâng cao phúc lợi động vật có phạm vi tác động rất lớn. Nội dung này đồng thời liên quan đến động vật cảnh, động vật phục vụ nghiên cứu, động vật trong vận chuyển, giết mổ, nuôi nhốt hoang dã và thủy sản.
TS Hạ Thúy Hạnh nhận định: “Một hạn chế hiện nay là các quy định về phúc lợi động vật còn nằm rải rác trong nhiều luật, chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất và chưa có định nghĩa pháp lý đầy đủ về ‘phúc lợi động vật’. Tiêu chí đánh giá đối với từng loài và từng công đoạn sản xuất còn thiếu, trong khi cơ chế giám sát, thực thi chưa đáp ứng yêu cầu thực tế”.

Không chỉ thiếu sự thống nhất về thể chế, Việt Nam hiện cũng chưa có hệ thống dữ liệu quốc gia đầy đủ về phúc lợi động vật. Những chỉ số như số cơ sở đáp ứng tiêu chuẩn, tỷ lệ vật nuôi bị thương hoặc chết trong quá trình vận chuyển, hiệu quả gây ngất tại cơ sở giết mổ hay mức độ áp dụng các nguyên tắc phúc lợi trong nghiên cứu khoa học chưa được thống kê đầy đủ.
Trong khi đó, dữ liệu đang ngày càng trở thành nền tảng của quản trị chuỗi chăn nuôi. Việc định danh vật nuôi bằng thẻ tai điện tử, vòng cổ thông minh, chip RFID tần số cao (HF) và siêu cao tần (UHF) đang được một số trang trại quy mô lớn triển khai. Các nền tảng như Agri360, TE-FOOD, iCheck cũng được sử dụng để kết nối dữ liệu từ con giống, dinh dưỡng, kiểm dịch thú y, giết mổ, chế biến đến sản phẩm cuối cùng.
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Lê Quốc Thanh cho rằng: “Yêu cầu đặt ra đối với ngành chăn nuôi là sản xuất an toàn, chất lượng, có truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Truy xuất nguồn gốc trong chăn nuôi không chỉ ở tem hoặc mã QR, mà còn cần dữ liệu toàn bộ quá trình sản xuất như: Con giống, thức ăn, thuốc thú y, tiêm phòng, ghi chép nhật ký đến giết mổ, chế biến, phân phối. Thời gian qua, hệ thống khuyến nông cả nước đã triển khai nhiều mô hình theo hướng an toàn sinh học, VietGAHP, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ”.
Xây dựng chuỗi chăn nuôi dựa trên dữ liệu
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, cho rằng phúc lợi động vật cần được đặt trong mối liên hệ với năng lực cạnh tranh và niềm tin của người tiêu dùng, thay vì chỉ được xem là yêu cầu tuân thủ. Trong chuỗi 3F (Feed - Farm - Food), BAF triển khai các yêu cầu về phúc lợi động vật xuyên suốt từ sản xuất thức ăn, chăm sóc tại trang trại đến vận chuyển và giết mổ. Theo doanh nghiệp, vận chuyển là một trong những công đoạn cần được kiểm soát chặt do liên quan trực tiếp đến mật độ, điều kiện vi khí hậu và thao tác với vật nuôi.
BAF đã ban hành Quyết định 338/2025/QĐ-BAF cùng các quy trình liên quan đến chăm sóc sức khỏe, an toàn sinh học và kiểm soát thú y. Đến nay, doanh nghiệp có 15 trang trại đạt chuẩn GLOBAL S.L.P. và nhà máy Long An đạt chứng nhận FSSC 22000. Cùng với quy trình quản lý, doanh nghiệp ứng dụng cảm biến và camera để theo dõi vi khí hậu, lượng thức ăn, nước uống, kết nối với hồ sơ thú y số và hệ thống cảnh báo tại hiện trường. Tuy nhiên, ông Minh lưu ý công nghệ chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ nhận diện rủi ro, còn việc quyết định biện pháp can thiệp vẫn thuộc về bác sĩ thú y và nhân sự chuyên môn tại cơ sở.
Cách tiếp cận lấy vật nuôi làm trung tâm cũng được TS Nguyễn Thị Hương, Phó Trưởng Bộ môn Di truyền và Đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam, nhấn mạnh. Theo bà, đánh giá phúc lợi không thể chỉ dựa vào diện tích chuồng nuôi hay trang thiết bị mà cần quan sát trực tiếp tình trạng của vật nuôi, từ thể trạng, tỷ lệ thương tích, chấn thương, hiện tượng què đến biểu hiện hành vi và phản ứng stress.

TS Nguyễn Thị Hương cho biết: “Cách tiếp cận phúc lợi động vật đang chuyển từ ‘5 quyền tự do’ sang mô hình ‘5 lĩnh vực’, gồm dinh dưỡng, môi trường, sức khỏe, hành vi và trạng thái tinh thần. Cách tiếp cận này gắn với nguyên tắc ‘Một sức khỏe’ (One Health). Khi vật nuôi khỏe mạnh, ít stress và được sống trong môi trường phù hợp, nhu cầu sử dụng thuốc thú y và kháng sinh có thể giảm, qua đó góp phần nâng cao an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe con người”.
Để chuyển các yêu cầu chuyên môn thành nội dung dễ áp dụng, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đưa ra thông điệp “5 tốt”, gồm ăn tốt, ở tốt, khỏe tốt, hành vi tốt và tinh thần tốt. Lộ trình được đề xuất cho giai đoạn 2026-2030, bắt đầu với chuẩn hóa quy định và xây dựng bộ tiêu chí trong năm 2026, thí điểm tại các chuỗi sản xuất năm 2027, mở rộng năm 2028, tích hợp trên toàn chuỗi năm 2029 và đánh giá, tổng kết vào năm 2030.
Ở quy mô rộng hơn, các mô hình chăn nuôi theo VietGAHP gắn với truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ đã được triển khai tại Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Nai và một số địa phương khác. Đối với chăn nuôi bò theo hướng VietGAHP tại Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Khánh Hòa, hiệu quả kinh tế được ghi nhận tăng khoảng 19,7-23,5% so với phương thức thông thường.
Dù vậy, việc chuyển sang mô hình chăn nuôi theo chuỗi vẫn đối mặt với nhiều trở ngại. Một hợp tác xã chăn nuôi công nghệ cao đạt chuẩn có thể cần nguồn vốn cao gấp khoảng 7 lần phương thức sản xuất cũ. Trong khi đó, liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi chưa thực sự bền vững, dữ liệu truy xuất ở một số nơi còn mang tính hình thức. Dịch bệnh, biến động giá đầu vào, thiên tai cùng những hạn chế về cơ sở giết mổ tập trung, chế biến, kho lạnh và logistics cũng có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng.

Theo các chuyên gia, để hình thành hệ sinh thái chăn nuôi minh bạch và bền vững, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện thể chế về phúc lợi động vật, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật theo từng loài và từng công đoạn, phát triển hệ thống dữ liệu quốc gia, nâng cao năng lực giám sát và đào tạo nhân lực.
Về phía ngành chăn nuôi, Cục Chăn nuôi và Thú y định hướng cơ cấu lại sản xuất theo hướng công nghiệp, ưu tiên các mô hình chuỗi giá trị khép kín, tăng cường giám sát hiệu lực hợp đồng liên kết, loại bỏ các cơ sở giết mổ không phép, đồng thời thúc đẩy chăn nuôi theo hướng kinh tế tuần hoàn, hữu cơ, VietGAHP và giảm phát thải.
Khi phúc lợi động vật được tích hợp với truy xuất nguồn gốc, an toàn sinh học và quản trị dữ liệu, chuỗi chăn nuôi không chỉ kiểm soát tốt hơn chất lượng sản phẩm mà còn tạo cơ sở để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế. Đây cũng là hướng chuyển dịch từ chăn nuôi dựa chủ yếu vào sản lượng sang mô hình coi chất lượng, tính minh bạch và phát triển bền vững là những trụ cột quan trọng.