Đã “sang bên kia cái dốc của đời” – nói như nhà văn Nam Cao – tôi bỗng giật mình thảng thốt khi không còn “nhận” ra chính mình: tóc bạc nhiều hơn, đỉnh đầu hói trơ trọi, trí nhớ lãng đãng hay quên; bước chân không còn phăm phăm chắc nịch, bàn tay trở nên lóng ngóng, khiến nét chữ của người làm nghề viết lách như tôi cũng vụng về, nguệch ngoạc. Đó là quy luật của tuổi tác. Không ai trong cuộc đời này tránh được. Buồn cho sức khỏe xuống cấp, nhưng còn chông chênh hơn khi nghĩ về cha mẹ đã đi xa, để lại khoảng trống không gì bù đắp, thay thế được.

Cuối cùng, tôi và chúng ta – những người cùng cảnh ngộ – đều phải chấp nhận sự thật ấy. Bởi mọi thứ trên đời, dù thiêng liêng, quý giá và tươi đẹp đến đâu, rồi cũng thành quá khứ, thành chuyện của “hôm qua” mất rồi. Thế nhưng kỳ lạ thay, ký ức về những ngày cuối năm lo toan bận rộn, về Tết xưa như một miền thương nhớ thăm thẳm lại ào ạt xô về. Một trong những ký ức đẹp của “bức tranh xuân” toàn cảnh ấy là khoảnh khắc tôi được sống lại trong tình thân, trong hơi ấm bếp lửa hồng bên nồi bánh chưng xanh ngày Tết.
… Khi còn là cậu bé chừng bốn, năm tuổi, tôi lon ton, ngơ ngác cùng cả nhà quây quần gói bánh chưng, thường vào ngày 28 hoặc 29 Tết. Ở góc sân, mỗi người một “công đoạn”: người lau lá dong, rửa lá chít sau khi đã luộc kỹ; người chẻ lạt, nối các đoạn dây dứa phơi khô để buộc bánh cho chặt. Mẹ tôi là “tổng chỉ huy”, vừa trực tiếp gói bánh, vừa hướng dẫn, “truyền nghề” cho chị dâu, chị gái. Anh trai tôi sức vóc có thừa, đảm nhiệm việc khuân củi, kê gạch theo thế “chéo mỏ kiềng”; múc nước từ giếng khơi đổ vào chiếc nồi đồng lớn để chuẩn bị nổi lửa luộc bánh.
Vĩnh Phú cũ quê tôi (nay là Phú Thọ) bao đời nay vẫn duy trì gói hai loại bánh chưng: bánh chưng tày – hình khối trụ tròn, dài khoảng 30cm – và bánh chưng vuông, phổ biến như nhiều vùng miền khác.
Từ bàn tay khéo léo, thoăn thoắt của mẹ đến những bàn tay còn vụng về “học việc” của chị dâu, chị gái, những chiếc bánh chưng tày, bánh chưng vuông lần lượt được gói xong. Mẹ không quên dành phần gạo cuối cùng để gói thêm hai chiếc bánh chưng con, buộc dây quàng cổ, để khi bánh chín tôi sẽ đeo như một “khẩu súng”. Cả một nia bánh chưng đủ hai loại được mẹ xếp ngay ngắn, vuông vức, một màu xanh mát mắt – màu xanh của ấm no, của khát vọng trong những ngày Tết khi đất nước còn nhiều khó khăn. Tôi gọi đó là Hạnh phúc xanh.
Với gia đình tôi, và với bao mái nhà vùng trung du Bắc Bộ, gói bánh chưng không chỉ là việc bếp núc, mà là một phong tục đẹp, một nếp văn hóa, một món ăn tinh thần quý giá được truyền lại như chính ngọn lửa bếp bánh chưng trong những ngày giáp Tết.
Rồi “công đoạn” luộc bánh bắt đầu. Nồi bánh chưng đỏ lửa, sôi lên xình xịch. Mùi lá dong, lá chít quện với mùi gạo nếp, hòa cùng hương nhân đậu xanh kẹp thịt lợn ba chỉ ướp mắm muối, hạt tiêu, tạo nên một mùi hương rất riêng. Tôi gọi đó là Mùi Tết. Mỗi nồi bánh chưng thường dùng khoảng 10kg gạo nếp, chia cho hai loại bánh, đủ để ăn, biếu nội ngoại hoặc làm quà ngày Tết. Bánh phải luộc liên tục bảy đến tám tiếng mới chín rền; người nấu luôn chú ý tiếp nước cho ngập bánh, giữ lửa đều.
Bên nồi bánh chưng là cả một thế giới câu chuyện. Dù lan man, tản mạn, nhưng rốt cuộc vẫn xoay quanh Tết. Nhà thì ôn lại những kỷ niệm Tết xưa; nhà thì ông bố cao hứng “tổng kết năm”, nói chuyện mùa màng, chăn nuôi, rồi tính “phương hướng năm tới”. Có nhà bàn luôn kế hoạch mổ lợn, ăn đụng, chia phần; chuyện ống nứa chọc tiết đã chuẩn bị chưa, xiên tre nướng thịt đã vót xong chưa. Phải chăng trong những năm tháng thiếu đói ấy, “văn hóa ẩm thực” lại được đặt lên hàng đầu? Nhưng cũng chính nhờ bếp lửa hồng ấy mà mạch nguồn tình thân, tình anh em dòng họ, tình nghĩa xóm giềng được thắp lên, nối lại, sẻ chia – từ việc gói, nấu đến mời nhau thưởng thức hương vị đặc trưng, không chỉ đọng trong ký ức mà còn theo ta suốt cuộc đời.
Qua thuở thiếu thời, việc phụ giúp gia đình làm bánh chưng với tôi trở nên nặng nhọc hơn. Đến thời trai tráng, trước Tết khoảng một tháng, tôi theo đám trai làng lên rừng xa hơn chục cây số đốn củi, thồ bằng xe đạp về, bổ gỗ thành thanh nhỏ, xếp bốn cạnh “chồng tang giếng” cho mau khô, kịp nấu cỗ Tết – trong đó nồi bánh chưng tiêu thụ lượng củi rất lớn.
Ngoài hai mươi tuổi, tôi rời quê trung du Đất Tổ về chốn thị thành học tập và công tác. Vì thế, những mùa Tết bên nồi bánh chưng quê nhà có phần gián đoạn. Đổi lại, bước chân nghề báo đưa tôi đi khắp các vùng miền, chứng kiến cảnh gói bánh, luộc bánh chưng ở đâu cũng tấp nập, hối hả: từ vệt khói lam chiều âm ỉ bên mái tranh nghèo đến một góc phố thị nhộn nhịp, xôn xao.
Trong đời, biết bao lần bên nồi bánh chưng ở quê nhà hay nơi khác, nhưng ấn tượng nhất với tôi là những nồi bánh chưng nơi ngoại thành Hà Nội – chốn tôi thuê trọ. Tôi nhớ nhà văn Văn Chinh từng nói, ông có gần mười năm thuê nhà, chuyển nhà “như mèo chuyển con” để sinh sống, làm báo, viết văn. Tích cóp, vay mượn mãi mới mua được chỗ “chui ra chui vào” dạng nhà thu nhập thấp ở quận Long Biên. Tôi cũng chẳng hơn gì.
Ba năm ở trọ cùng nhà thơ Vũ Hùng (quê Ninh Bình) trong căn phòng sập sệ ở ngõ nhỏ phố Trần Khát Chân. Ông “đi bước nữa”, lập gia đình, xây được nhà khang trang ở đường Lĩnh Nam. Còn tôi vạ vật, phiêu bạt, cuối cùng dạt về phường Xuân Đỉnh (quận Bắc Từ Liêm), tá túc trong căn phòng chừng 10m² chật chội, ẩm thấp, sách báo chất cao có thể ụp xuống bất cứ lúc nào.
Chủ nhà tôi là ông Nguyễn Xuân Cảnh (sinh năm 1964), người nhỏ thó, tóc quăn, nghiện rượu, thuốc lào, ham tổ tôm, ba cây, xóc đĩa. Trong năm năm ở trọ, có đến bốn năm cận Tết tôi phụ vợ chồng ông làm và nấu bánh chưng. Vợ ông – bà Phúc – người đẫy đà, da trắng, đôi tay chai sạn, giọng nói xởi lởi, thật thà. Ông Cảnh tuy luộm thuộm, hay cờ bạc vặt, nhưng rất khéo tay khi gói bánh, nấu nướng. Những chiếc bánh chưng vuông ông gói không cần khuôn, vẫn vuông vức, đều đặn.
Bên bếp lửa hồng nghi ngút khói, ông trải chiếu, bày chai rượu quê cùng chút đồ nhắm. Tôi và ông nhâm nhi, chuyện trò lan man: từ Tết, đến giá đào quất, mưa bão, ngập úng. Mệt quá, lại có men, ông ngủ thiếp lúc nào không hay. Vợ ông quen cảnh ấy, đi ngủ sớm. Còn tôi, vừa đọc báo xuân, vừa tiếp củi, châm nước nồi bánh suốt đêm đến sáng. Tôi không thấy mệt. Vì vui. Vì thấy như đang ở nhà mình.
Mùa thu năm 2019, trước thềm dịch Covid-19, ông Cảnh qua đời vì ung thư gan. Ông vĩnh viễn giã từ những nồi bánh chưng xanh, từ lễ cúng ông Công, ông Táo đến đêm giao thừa. Dự đám tang, chụp ảnh lưu lại cho gia đình, tôi không khóc, nhưng cay cay nơi khóe mắt. Bà con khu phố Xuân Đỉnh bùi ngùi bảo nhau: “Ông Cảnh số ngắn, nhưng có người ghi lại hình ảnh cho con cháu, cũng là cái phúc”.
Ngày Tết, trong mâm cỗ gia đình không thể thiếu bánh chưng xanh. Cắn một miếng bánh, ta như thấy dáng mẹ, dáng chị, dáng vợ con, và bóng dáng những người nông dân một nắng hai sương làm nên “hạt gạo làng ta”. Ta lại thấy hoàng tử Lang Liêu bước ra từ truyền thuyết đời Hùng Vương thứ sáu, dâng bánh tượng trưng cho Trời tròn – Đất vuông, để rồi từ đó, mỗi độ Tết về, nhà nhà làm bánh chưng, bánh dầy dâng cúng Trời Đất, tổ tiên.
Và đâu đây, âm hưởng thơ Bằng Việt vọng về, dặt dìu, xác tín:
“Trời đất vuông tròn như bánh dầy, bánh chưng Thế giới mỡ màu, đậm đà như nhân đỗ…
Bà tôi thì thích việc đời có hậu
Suốt đời muốn tôi tin chuyện Lang Liêu”.
Phú Thọ – Hà Nội, áp Tết Bính Ngọ 2026
Tùy bút của Đức Dũng