Khi đại ngàn từng lặng tiếng xuân
Ở Tân Quang (xã Thanh Kỳ, tỉnh Thanh Hóa), người dân không quen đếm thời gian bằng lịch. Mùa đi – mùa đến được cảm nhận qua những tín hiệu rất riêng của núi rừng. Nhất là khi sắc hoa lặng lẽ nở trên những triền đồi xa hút, rừng báo hiệu xuân về.
Nhưng một thời gian dài, những tín hiệu ấy dần mờ nhạt, khi rừng nơi đây không còn khỏe. Mấy chục năm trước, rừng Tân Quang từng loang lổ như chính cuộc mưu sinh đầy bấp bênh của người dân nơi đây.
Rừng gần như là nơi sinh tồn gần như duy nhất, nên muốn có ngô, có lúa, phải chặt cây mở nương. Những thân cây lớn ngã xuống trong tiếng rìu khô khốc, lửa rừng bùng lên sau mỗi mùa phát dọn, tro bụi phủ kín sườn núi, che mờ cả những mái nhà tranh xiêu vẹo.

Nhắc lại quãng thời gian đầu lập nghiệp, ông Hà Văn Khương, sinh năm 1955, nguyên Bí thư Chi bộ thôn Tân Quang, vẫn không giấu được sự trăn trở: “Năm 1990, chúng tôi di cư từ xã Phú Sơn lên đây. Khi ấy rừng xanh còn nhiều, nhưng vì cần đất sản xuất, bà con thi nhau chặt cây. Ít ai nghĩ rừng sẽ cạn, càng không nghĩ đến hậu quả lâu dài”.
Khi rừng bị đẩy lùi, tưởng chừng một không gian sống mới được mở ra, nhưng thực chất lại hu hẹp chính tương lai của người dân Tân Quang. Chỉ vài vụ canh tác, nương rẫy trở nên cằn cỗi, năng suất giảm sút. Người dân buộc phải bỏ đi, dạt sâu hơn vào rừng già, tiếp tục một vòng phá –trồng – bỏ.
Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Kỳ, khi rừng không còn che chở, nguồn nước từ các khe núi cạn dần. Những con suối từng chảy quanh năm bắt đầu khô đáy vào mùa khô, ruộng nương nứt nẻ, sản xuất bấp bênh. Cái đói, cái nghèo kéo theo nhiều hệ lụy xã hội, đời sống cộng đồng trầm lắng, niềm tin vào tương lai cũng dần phai nhạt.
“Tân Quang từng là một trong những thôn đặc biệt khó khăn. Phá rừng và nghèo đói đan xen. Vận động bà con giữ rừng trong khi cái ăn còn thiếu là bài toán rất nan giải”, ông Sơn nói.

Rừng hồi sinh, xuân trở lại bản làng
Đứng trên mỏm đá cao nhìn xuống các triền núi phía xa, anh Hà Văn Toàn, sinh năm 1984, Bí thư Chi bộ thôn Tân Quang, lặng người trước màu xanh đang dần trở lại. Anh thuộc thế hệ lớn lên cùng những biến động của rừng – từ lúc suy kiệt đến khi hồi sinh.
“Khi tôi còn nhỏ, nhiều quả đồi đã trơ trọc rồi. Giờ nhìn rừng xanh trở lại, mình mới thấm rằng nếu không giữ rừng thì chẳng còn gì cho con cháu. Những năm gần đây, bà con trong thôn cũng tích cực trồng keo, gây rừng sản xuất theo quy hoạch, vừa phủ xanh đất trống, vừa tạo sinh kế ổn định, hướng tới phát triển kinh tế rừng bền vững”, anh Toàn chia sẻ.
Theo anh Toàn, sự thay đổi bắt đầu từ những việc nhỏ nhưng bền bỉ. Ranh giới rừng được cắm mốc rõ ràng. Từng hộ được giao đất, giao rừng cụ thể. Cán bộ xã, kiểm lâm bám thôn, kiên trì giải thích để bà con hiểu rằng: phá rừng cũng chính là tự cắt đi con đường sống của mình.
Bước ngoặt đến khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai. Những khoản tiền tuy không lớn nhưng đều đặn đã tạo thay đổi rõ rệt trong nhận thức. Lần đầu tiên, người dân Tân Quang thấy rằng rừng không chỉ là thứ để khai thác, mà còn là “nguồn vốn” lâu dài nếu biết gìn giữ. Nhiều gia đình có thêm chi phí sinh hoạt, giảm áp lực quay lại con đường chặt phá rừng như trước.
Giá trị của rừng giờ không còn chỉ tính bằng khối gỗ. Khái niệm tín chỉ carbon từng xa lạ đang dần trở nên quen thuộc với người dân vùng cao. Những cánh rừng hấp thụ khí CO₂, giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu và mở ra nguồn lợi mới từ chính việc bảo vệ rừng.

“Cán bộ nói cây rừng hút khí xấu, thở ra khí tốt. Mình giữ rừng, rừng nuôi lại mình”, anh Toàn chia sẻ cách hiểu rất mộc mạc của người dân Tân Quang.
Theo Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Kỳ Nguyễn Văn Sơn, triển vọng từ tín chỉ carbon không chỉ mang lại nguồn lực tài chính, mà quan trọng hơn là tạo động lực để người dân gắn bó lâu dài với rừng. “Xã định hướng phát triển sinh kế dưới tán rừng như trồng dược liệu, măng vầu, nuôi ong lấy mật, kết hợp với rừng sản xuất, từng bước nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi héc-ta rừng”, ông Sơn nói.
Với hướng đi mới, Tân Quang đang phủ lại màu xanh của rừng trên những sườn núi. Trong màu xanh ấy không chỉ có sự hồi sinh của rừng, mà còn là sự tái sinh trong tư duy và cách sống của con người – nền tảng cho một tương lai no ấm, bền vững, hình thành từ rừng, vì rừng mà phát triển.
“Năm 2025 trên địa bàn có gần 3.700 ha được chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó phần lớn là diện tích giao cho hộ dân quản lý. Ngoài ra, các nguồn kinh phí hỗ trợ cộng đồng bảo vệ rừng tự nhiên giúp người dân yên tâm gắn bó với rừng, tạo nền tảng cho những cơ chế mới trong tương lai.
Ông Nguyễn Văn Dũng
Giám đốc Ban Quản lý dự án rừng phòng hộ Như Thanh