Từ định hướng phát triển kinh tế tư nhân đến cam kết chuyển đổi xanh, Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào tài chính xanh như một trụ cột của tăng trưởng bền vững. Song thực tế cho thấy, dòng vốn này vẫn chưa lan tỏa mạnh tới khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong nông nghiệp – nơi nhu cầu chuyển đổi xanh đang gia tăng nhanh chóng.

Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với định hướng kinh tế tư nhân là động lực quan trọng hàng đầu. Tinh thần này được khẳng định trong Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII, thể hiện cam kết xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhanh và bền vững, nhất là trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 cũng đang tạo áp lực chuyển đổi sâu rộng đối với toàn bộ nền kinh tế.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh rất lớn, tài chính xanh, đặc biệt là tín dụng xanh, trở thành công cụ then chốt và là một trụ cột của an toàn tài chính vĩ mô. Tuy nhiên, dù khung chính sách ngày càng hoàn thiện, tín dụng xanh hiện mới chiếm khoảng 4,3 - 4,5% tổng dư nợ, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa chủ trương và khả năng triển khai trong thực tế.
Quy mô tăng nhưng doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận
Tín dụng xanh tại Việt Nam đang có xu hướng tăng trưởng. Tính đến quý I/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt hơn 704.244 tỷ đồng, tăng 3,57% so với cuối năm 2024 và có sự tham gia của 58 tổ chức tín dụng. Trước đó một năm, con số này là 636.964 tỷ đồng với 47 tổ chức tín dụng. Dòng vốn xanh hiện chủ yếu tập trung vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 43%) và nông nghiệp xanh (trên 30%).
Dù vậy, phía sau những con số này là một thực tế chưa trọn vẹn. Tỷ trọng tín dụng xanh vẫn còn khiêm tốn so với quy mô nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia có độ phụ thuộc cao vào tín dụng ngân hàng. Điều này phản ánh những rào cản chưa được tháo gỡ.
Theo bà Nguyễn Phương Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững, phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp đã thực hành ESG, nhưng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức mà ở năng lực thực thi và khả năng chuyển hóa các thực hành này thành chuyển đổi hiệu quả.
“Những doanh nghiệp làm tốt hơn chưa chắc tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ phù hợp, bao gồm tài chính bền vững”, bà Linh chỉ ra một nghịch lý.

Một khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững công bố ngày 20/3/2026 cho thấy khoảng cách rõ rệt giữa thực hành bền vững và khả năng tiếp cận vốn. Trong số 97 doanh nghiệp và hợp tác xã thuộc các ngành cà phê, gạo, thủy sản, rau quả, chỉ duy nhất một đơn vị vay được vốn ưu đãi từ ngân hàng. Đây là tỷ lệ rất thấp, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã ban hành danh mục phân loại xanh với 7 lĩnh vực và 45 ngành, cùng các cơ chế hỗ trợ như cho vay không cần tài sản bảo đảm đến 70% giá trị dự án đối với nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn.
Tuy nhiên, như bà Hoàng Thu Trang, chuyên gia tư vấn độc lập - đại diện nhóm nghiên cứu, nhận định, doanh nghiệp có chứng nhận trong nước hay quốc tế về nông nghiệp bền vững vẫn khó “qua cửa” ngân hàng. Nguyên nhân là các tiêu chí xét duyệt không chỉ dừng ở chứng nhận mà còn bao gồm tài sản bảo đảm, vốn đối ứng và phương án kinh doanh.
Không chỉ doanh nghiệp gặp khó, chính các ngân hàng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Việc thiếu danh mục phân loại xanh thống nhất khiến cán bộ tín dụng phải tự đánh giá dự án có “xanh” hay không. Năng lực thẩm định rủi ro môi trường – xã hội còn hạn chế, trong khi các yêu cầu từ chính sách khó lượng hóa và tích hợp vào mô hình tín dụng. Bên cạnh đó, việc thiếu dữ liệu ESG chuẩn hóa khiến quá trình thẩm định và giám sát sau cho vay gặp nhiều khó khăn, tạo thành một vòng luẩn quẩn.
Gỡ “nút thắt” để doanh nghiệp nhỏ không đứng ngoài cuộc
Trước những rào cản hiện hữu, yêu cầu đặt ra là cần các giải pháp mang tính hệ thống nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Theo các chuyên gia, tăng cường phối hợp liên ngành là yếu tố then chốt để bảo đảm tính thống nhất trong xây dựng và triển khai chính sách ESG và tài chính xanh.
Chuyên gia Hoàng Thu Trang đề xuất, ở cấp địa phương cần thúc đẩy các mô hình liên kết chuỗi giá trị có tích hợp ESG, đồng thời hỗ trợ xác nhận vùng nguyên liệu và giám sát tuân thủ. Về phía ngân hàng, cần phát triển các sản phẩm tín dụng xanh gắn với tài chính toàn diện, phù hợp hơn với đặc thù của nông nghiệp và năng lực của doanh nghiệp nhỏ.
Ngoài ra, việc giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, tăng cường các công cụ tài chính cho đổi mới sáng tạo và đầu tư tác động cũng được xem là hướng đi quan trọng. Đồng thời, hệ thống phân loại xanh cần được “hạ độ cao”, trở nên dễ hiểu và gần gũi hơn với doanh nghiệp nhỏ và người nông dân.
Trong bối cảnh nhu cầu tài chính bền vững trong nông nghiệp được dự báo gia tăng mạnh trong 1–3 năm tới, đặc biệt ở các lĩnh vực như canh tác bền vững, kinh tế tuần hoàn hay đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, việc tháo gỡ các nút thắt về vốn là yêu cầu cấp thiết. Nếu không, một bộ phận lớn doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã sẽ tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi, dù chính họ là những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông nghiệp xanh.
“Một trong những rào cản lớn nhất là thiếu ‘ngôn ngữ chung’ giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Để giải quyết thách thức này, cần tiếp cận theo hướng hệ sinh thái, trong đó các chính sách, công cụ tài chính và tiêu chuẩn được thiết kế và vận hành đồng bộ. Đồng thời, việc lan tỏa các mô hình thực hành tốt cũng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng niềm tin và thúc đẩy chuyển đổi.”
(TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân – Ban IV)
Trần Huyền