
Khoảng năm 2020, Hà Thị Sâm bắt đầu làm du lịch ở Pù Luông với một mô hình còn nhỏ. Đến năm 2025, Pù Luông Happy Home đã có 6 bungalow và một nhà sàn. Từ chỗ chỉ nghĩ đến việc có chỗ cho khách nghỉ, chị dần nhận ra rằng mỗi người khách đến bản đều có thêm những nhu cầu khác.
“Khách đến không chỉ thuê phòng. Họ còn ăn uống, muốn trải nghiệm cuộc sống của người dân, muốn biết những món ăn, nét văn hóa ở đây. Mình có gì thì khai thác cái đó để tạo thêm thu nhập”, chị Sâm nói.

Một căn phòng vì thế chỉ là điểm bắt đầu. Khách ở lại sẽ ăn uống, cần người đưa đi tham quan, muốn tìm hiểu đời sống trong bản hoặc mua một sản vật mang về. Những nhu cầu ấy mở thêm việc cho người dân địa phương và tạo ra những khoản thu nằm ngoài tiền lưu trú.
Nguyễn Thái Sơn, chủ The Palm Puluong Homestay & Restaurant ở Bản Đôn, cũng nhìn thấy sự thay đổi đó từ hoạt động kinh doanh của mình. Trên diện tích khoảng 2.000m², cơ sở được đầu tư khoảng 10 tỷ đồng, có nhà sàn cộng đồng, 8 phòng nghỉ, hai khu nhà hàng và bể bơi, có khả năng phục vụ hơn 70 khách cùng lúc.
Theo anh Sơn, nếu chỉ có phòng nghỉ thì du khách khó ở lại lâu và chi tiêu cũng giới hạn. “Khách đến Pù Luông không chỉ để ngủ rồi về. Họ muốn ăn những món của địa phương, muốn đi bản, đi rừng, tìm hiểu cuộc sống của người dân. Làm du lịch vì thế phải tạo được nhiều sản phẩm hơn chứ không chỉ có phòng nghỉ”, anh nói.

Thị trường Pù Luông hiện đã đủ lớn để những nhu cầu đó tạo thành một dòng tiền đáng kể. Năm 2025, khu du lịch này đón khoảng 60.380 lượt khách, doanh thu ước khoảng 400 tỷ đồng, với 68 cơ sở lưu trú. Nhưng phía sau con số ấy còn một câu hỏi: bao nhiêu tiền thực sự ở lại với người dân trong bản?
Một bữa cơm của du khách cần nguyên liệu. Một chuyến đi vào bản cần người dẫn đường. Một cơ sở lưu trú cần người nấu ăn, dọn phòng, vận chuyển. Khi những công việc ấy được người dân địa phương đảm nhận, chi tiêu của du khách không dừng lại ở nơi họ nghỉ mà tiếp tục đi qua nhiều người khác trong cộng đồng.

Đó cũng là cách một căn phòng nghỉ có thể tạo ra nhiều nguồn thu hơn cho một điểm đến. Giá trị không nằm riêng ở việc bán được một đêm phòng, mà ở chỗ những nhu cầu phát sinh trong thời gian du khách lưu lại được kết nối với người dân địa phương đến đâu.

Bản Mạ, xã Thường Xuân, đang ở một điểm khác trên hành trình ấy. Bản có nhà sàn, dòng sông Chu, nghề dệt thổ cẩm và những món ăn mang hương vị miền núi. Những thứ để làm du lịch không thiếu, nhưng số hộ thực sự tham gia vào hoạt động đón khách vẫn còn rất ít.

Trong 57 hộ dân của bản hiện chỉ có 4 hộ đón khách, trong đó một hộ duy trì thường xuyên.
Lang Thị Chai, 71 tuổi, cùng Vi Văn Tiên là những người đi trước trong việc đưa nhà sàn của gia đình vào phục vụ du khách. Những căn nhà rộng khoảng 60-100m² vẫn giữ kiến trúc truyền thống, nhưng được bổ sung internet, điều hòa và những tiện nghi cần thiết để phù hợp với nhu cầu nghỉ lại của khách.
Từ những căn nhà ấy, đời sống trong bản bắt đầu có thêm một nguồn thu. Du khách đến không chỉ để ngủ lại mà còn muốn ăn những món được nấu từ nguyên liệu địa phương như gà đồi, cá sông Chu, trâu gác bếp, canh đắng, xôi ngũ sắc, rượu cần. Những món ăn vốn hiện diện trong đời sống của người dân nay có thêm giá trị khi được đưa vào phục vụ khách.

Nhưng 4 hộ trên tổng số 57 hộ cũng cho thấy du lịch ở Bản Mạ mới chỉ chạm vào một phần rất nhỏ của cộng đồng. Không phải 57 hộ đều phải làm homestay. Một bản làng cũng không thể có hàng chục cơ sở cùng đón khách mà vẫn giữ nguyên không gian sống vốn có. Điều quan trọng hơn là những hộ chưa trực tiếp làm lưu trú có thể tham gia bằng chính công việc họ đang làm.
Ở Pù Luông, điều này đã bắt đầu hình thành. Khi khách đến Bản Đôn, Kho Mường, Bản Báng, nhu cầu về thực phẩm và dịch vụ cũng tăng theo. Người dân có thêm đầu ra cho những sản phẩm vốn làm ra để phục vụ cuộc sống hằng ngày. Một bữa ăn có thể đưa sản phẩm của người dân vào bàn khách. Một món đồ thổ cẩm bán được cũng đem lại thêm một khoản thu cho người làm nghề. Những người am hiểu đường rừng, văn hóa bản địa có thêm việc khi khách muốn đi sâu hơn vào đời sống của bản.

Những sản vật như vịt Cổ Lũng, rau của các hợp tác xã, ốc đá, măng khô hay các sản phẩm thủ công vì thế có thêm một thị trường. Khi khách mua, ăn hoặc sử dụng những sản phẩm ấy, tiền du lịch đi thêm một vòng thay vì chỉ tập trung ở cơ sở lưu trú.
Pù Luông đã có một thị trường đủ lớn để những mối liên hệ này hình thành tự nhiên hơn. Bản Mạ thì mới bắt đầu, và con số 4/57 cho thấy phần lớn người dân vẫn chưa có chỗ đứng trong dòng tiền từ du lịch. Khoảng cách ấy không nhất thiết được rút ngắn bằng cách xây thêm thật nhiều homestay, mà bằng việc tạo thêm những cách để người dân tham gia.

Với du lịch cộng đồng, đông khách mới chỉ là một phần của bài toán. Điều đáng quan tâm hơn là khách ở lại bao lâu, chi tiêu vào đâu và khoản tiền ấy đến được với những ai.

Đây cũng là hướng Thanh Hóa đang đặt ra trong giai đoạn phát triển du lịch 2026-2030. Theo bà Vương Thị Hải Yến, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, người dân phải là chủ thể trong phát triển du lịch cộng đồng. Khi người dân có sinh kế từ du lịch, họ sẽ có thêm động lực để giữ gìn cảnh quan, văn hóa và những giá trị truyền thống của địa phương.
Ở cấp độ bản làng, điều đó bắt đầu từ những việc rất cụ thể. Một cơ sở lưu trú có thể tìm nguồn thực phẩm ngay trong bản. Một bữa cơm của khách có thể tạo việc cho người nấu và đầu ra cho người sản xuất. Những giá trị văn hóa, nghề truyền thống nếu được đưa vào trải nghiệm cũng tạo thêm thu nhập cho người dân.

Khi các khoản thu ấy cùng xuất hiện trong một chuyến đi, một lượt khách có thể tạo ra nhiều việc hơn so với việc chỉ thuê một căn phòng. Đó là điểm khác nhau giữa một điểm đến có khách và một điểm đến tạo được sinh kế từ du lịch.
Pù Luông đã đi được một đoạn đường trên hành trình này. Các cơ sở lưu trú phát triển, khách đến nhiều hơn, những sản vật và dịch vụ địa phương bắt đầu có chỗ trong chuỗi du lịch. Bản Mạ mới bắt đầu với những hộ đầu tiên đón khách, nhưng chính khoảng cách giữa 57 hộ dân và 4 hộ đón khách lại cho thấy dư địa để cộng đồng tham gia còn rất lớn.
Bản làng không cần biến tất cả ngôi nhà thành homestay. Điều quan trọng là những công việc vốn gắn với đời sống hằng ngày có thêm đầu ra từ du lịch. Khi người dân có thể kiếm thêm từ những gì mình đang làm, tiền của du khách cũng ở lại lâu hơn trong bản.
Và khi ấy, rừng, ruộng bậc thang, nhà sàn, món ăn hay nghề truyền thống không chỉ là lý do để du khách tìm đến. Chúng trở thành giá trị kinh tế được tạo ra ngay trên quê hương của người dân.
(còn tiếp)
Hà Khải