Ruộng lúa – rươi: Khi thuận tự nhiên tạo nên “giá trị kép”

Từ một vụ lúa và một mùa rươi trên cùng thửa ruộng, mô hình lúa – rươi tại xã Chí Minh, thành phố Hải Phòng, đang cho thấy hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp: giảm phụ thuộc vào hóa chất, phát huy giá trị hệ sinh thái và nâng cao thu nhập cho người dân.

Một thửa ruộng, hai mùa sinh kế

Tại xã Chí Minh, thành phố Hải Phòng, những thửa ruộng canh tác kết hợp lúa – rươi đang mở ra một cách tiếp cận khác với sản xuất nông nghiệp truyền thống. Thay vì khai thác tối đa đất đai bằng việc tăng vụ, người dân dành thời gian để đất nghỉ, duy trì môi trường tự nhiên cho rươi sinh trưởng.

anh-dai-dien-bai-viet-6-1786759927.png
Lúa được cấy với mật độ thưa hơn so với ruộng thông thường, tạo độ thông thoáng cho chân ruộng và duy trì môi trường sống của rươi.

Khác với ruộng lúa thông thường có thể canh tác hai vụ mỗi năm, ruộng rươi chỉ trồng một vụ lúa từ khoảng tháng 1 đến tháng 6. Sau khi thu hoạch, đất được để nghỉ trong nhiều tháng. Từ khoảng tháng 9 đến tháng 11, người dân bước vào mùa thu hoạch rươi.

Trên cùng một thửa ruộng, cây lúa và con rươi cùng tồn tại trong một chu trình sinh thái. Cây lúa giúp làm mát chân ruộng, duy trì độ ẩm và tạo môi trường phù hợp cho rươi. Ngược lại, hoạt động của rươi góp phần làm tơi đất, thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ và bổ sung nguồn mùn tự nhiên.

anh-dai-dien-bai-viet-1786759940.png
Trong quá trình sinh trưởng, người dân hạn chế tối đa tác động đến hệ sinh thái ruộng rươi, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

Đây là nền tảng của phương thức canh tác mà Công ty cổ phần Sinh thái ruộng rươi (RUECO) theo đuổi: hạn chế tác động hóa học, phát huy điều kiện tự nhiên và tạo nhiều giá trị trên cùng diện tích đất.

Câu chuyện bắt đầu từ hành trình tìm kiếm giống gạo sạch của chị Phạm Thị Kiều Oanh, nhà sáng lập RUECO. Xuất phát từ nhu cầu tìm sản phẩm gạo an toàn, chị Oanh đã tìm hiểu nhiều vùng trồng và tình cờ tiếp cận những cánh đồng rươi. Nhận thấy sự tồn tại của rươi gắn chặt với chất lượng đất, nước và môi trường canh tác, chị Oanh cùng cộng sự bắt đầu nghiên cứu, thử nghiệm mô hình lúa – rươi.

anh-dai-dien-bai-viet-1-1786759942.png
Người nông dân phải thường xuyên kiểm tra cây lúa, đất và nguồn nước để kịp thời điều chỉnh phương thức chăm sóc, bảo đảm điều kiện sinh trưởng tự nhiên của ruộng rươi.

Theo đó, các giống lúa được lựa chọn không chỉ dựa trên năng suất mà còn phải thích ứng với điều kiện ruộng rươi, có khả năng chịu mặn, kháng sâu bệnh và bảo đảm chất lượng hạt gạo. ST25, Ngọc Nương chín, Nếp Vàng và Tím Thảo Dược là những giống được canh tác tại vùng nguyên liệu.

Ngay từ mùa đầu tiên, RUECO mang gạo ruộng rươi tới một triển lãm tại Nhật Bản. Khi nấu cơm mời khách thưởng thức, hương vị của gạo đã tạo ấn tượng với người quản lý ngành hàng và những người tham dự. Từ trải nghiệm đó, doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện quy trình, hướng tới nâng cao giá trị của hạt gạo thay vì chạy theo sản lượng.

Ruộng rươi cũng đòi hỏi kỹ thuật canh tác khác biệt. Các khóm mạ được cấy thưa hơn ruộng thông thường để tạo độ thông thoáng cho chân ruộng. Phân đạm, phân lân và thuốc bảo vệ thực vật hóa học không được sử dụng; nguồn dinh dưỡng được bổ sung từ phân hữu cơ, rơm rạ, trấu và phân chuồng đã qua xử lý.

anh-dai-dien-bai-viet-2-1786759929.png
Cây lúa phát triển trên nền đất được duy trì độ tơi xốp, giàu mùn; hệ sinh thái đồng ruộng được giữ ổn định trong suốt vụ canh tác.

Sau mỗi vụ thu hoạch, ruộng được cày bừa, đánh luống để hình thành địa hình cao - thấp tự nhiên. Những vùng đất tơi xốp, giàu mùn trở thành môi trường thuận lợi cho rươi sinh trưởng.

anh-dai-dien-bai-viet-10-1786759933.png
Lúa được thu hoạch vào khoảng cuối tháng 6, sau đó ruộng được để nghỉ, tạo điều kiện cho rươi sinh trưởng và bước vào mùa thu hoạch.

Ông Nguyễn Thiên Nguyên, sinh năm 1960, một hộ nông dân tham gia mô hình, cho biết trước đây gia đình chủ yếu nuôi rươi, còn lúa chỉ được cấy để phục vụ nhu cầu gia đình. Từ khi kết hợp sản xuất lúa với nuôi rươi, ông nhận thấy mô hình vừa phù hợp với điều kiện đồng đất địa phương, vừa mang lại thêm nguồn thu nhập.

“Làm ruộng rươi thì phải giữ đất, giữ nước, không thể tùy tiện dùng thuốc hay phân hóa học. Ban đầu cũng có những băn khoăn, nhưng làm lâu rồi mới thấy nếu giữ được môi trường thì rươi phát triển, lúa cũng cho chất lượng tốt. Đất đai được giữ gìn thì mình còn có thể làm lâu dài”, ông nói.

Từ thực tế sản xuất, ông Nguyên cho rằng sự đồng hành của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng giúp người dân mạnh dạn thay đổi phương thức canh tác. “Bà con chúng tôi mong muốn làm ra sản phẩm sạch, nhưng muốn làm được thì phải có người đồng hành. RUECO hỗ trợ kỹ thuật, giống và đầu ra nên chúng tôi có thêm niềm tin để duy trì mô hình. Tôi thấy đây là hướng sản xuất phù hợp với quê mình và nên được phát triển lâu dài.”, ông Nguyên bày tỏ.

Thực tế canh tác cũng cho thấy, muốn giữ được rươi thì trước hết phải giữ được môi trường sống của chúng. Những thử nghiệm bón phân hóa học để tăng năng suất lúa từng khiến rươi biến mất trên một số diện tích. Sau khi dừng phương thức canh tác này, phải mất nhiều năm rươi mới xuất hiện trở lại.

anh-dai-dien-bai-viet-4-1786759923.png
Sau vụ lúa, ruộng được cày bừa và đánh luống, hình thành địa hình cao - thấp tự nhiên, tạo môi trường thuận lợi cho rươi phát triển.

Cuối tháng 6, vụ lúa kết thúc. Lúa được thu hoạch và xay xát, sau đó ruộng bước vào thời gian nghỉ. Đến khoảng tháng 9-11, rươi vào vụ. Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, đây là thời điểm rươi phát triển mạnh và cho thu hoạch.

anh-dai-dien-bai-viet-3-1786759831.png
Rươi là một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái ruộng rươi, đồng thời tạo thêm nguồn thu nhập cho người nông dân sau mùa lúa.

Như vậy, trên cùng một diện tích, người dân có thể khai thác hai nguồn sản phẩm trong năm: lúa và rươi. Đây là giá trị kép mà mô hình hướng tới.

anh-dai-dien-bai-viet-9-1786759923.png
Sau nhiều tháng ruộng nghỉ, rươi bước vào mùa thu hoạch khoảng từ tháng 9 đến tháng 11, tạo thêm nguồn sản phẩm và thu nhập trên cùng diện tích đất.

Từ thuận tự nhiên đến “ngon - thật - chất”

Nếu chỉ nhìn vào năng suất lúa, mô hình ruộng rươi khó cạnh tranh với sản xuất đại trà. Nhưng khi tính tổng thể giá trị từ cây lúa, con rươi, chất lượng đất, nguồn nước và đầu ra sản phẩm, hiệu quả kinh tế lại được nhìn nhận theo hướng khác.

Theo chị Phạm Thị Kiều Oanh, mục tiêu của doanh nghiệp không dừng ở việc tạo ra một sản phẩm gạo sạch, mà hướng tới xây dựng hệ sinh thái sản phẩm nông nghiệp sinh thái có giá trị cao hơn.

anh-dai-dien-bai-viet-5-1786759856.png
Gạo ruộng rươi là một trong những sản phẩm được RUECO phát triển từ vùng nguyên liệu canh tác theo hướng hạn chế hóa chất, hướng tới giá trị “ngon – thật – chất”.

“Tôi muốn tiếp tục nâng cao chất lượng gạo ruộng rươi, mở rộng sản xuất và đưa sản phẩm đến với nhiều người hơn. Đồng thời, tôi cũng mong muốn nhận thêm sự hỗ trợ từ các chuyên gia thực phẩm để phát triển các sản phẩm từ gạo truyền thống theo hướng hiện đại hơn”, chị Oanh chia sẻ.

Theo chị Oanh, giá trị của gạo ruộng rươi không chỉ nằm ở năng suất mà còn ở chất lượng. Người tiêu dùng phản hồi gạo có vị ngọt, đậm hơn. Đất ruộng giàu mùn và vi sinh vật tự nhiên là một trong những yếu tố góp phần tạo nên chất lượng hạt gạo. Trong khi đó, rươi là sản vật có giá trị kinh tế cao và có thể chế biến thành nhiều sản phẩm như chả rươi, nem rươi, rươi ủ trấu...

anh-dai-dien-bai-viet-8-1786759940.png
Rươi sau thu hoạch được chế biến thành nhiều sản phẩm như chả rươi, nem rươi, rươi ủ trấu…, góp phần gia tăng giá trị cho sản vật địa phương.

Tuy nhiên, để duy trì mô hình, người nông dân phải chấp nhận một nguyên tắc quan trọng: không can thiệp bằng hóa chất khi sâu bệnh xuất hiện trên lúa. Chỉ một lần phun thuốc bảo vệ thực vật cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường sống của rươi. Vì vậy, trong những mùa sâu bệnh hoặc điều kiện thời tiết bất lợi, sản lượng lúa có thể giảm.

Biến đổi khí hậu cũng đang tạo thêm áp lực khi độ mặn của nguồn nước thay đổi thất thường, ảnh hưởng đến sinh trưởng của rươi. RUECO lựa chọn cách thích ứng dựa trên kinh nghiệm của người dân, theo dõi điều kiện thủy văn và điều chỉnh quy trình sản xuất.

Từ năm 2017, doanh nghiệp từng bước đồng hành với nông dân thông qua cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm. Các lớp tập huấn được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức về canh tác an toàn, không hóa chất; các tổ sản xuất được hình thành để giám sát và cải tiến quy trình.

Không chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp, mô hình còn hướng tới bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng trồng. Việc hạn chế hóa chất góp phần bảo vệ đất, nước và duy trì môi trường sống của nhiều loài sinh vật đồng ruộng.

RUECO cũng phối hợp với các làng nghề, nông hộ để sử dụng nguyên liệu bản địa, duy trì đặc sản vùng miền và các phương pháp chế biến truyền thống trong ẩm thực Việt Nam.

Theo doanh nghiệp, mô hình hiện tạo việc làm cho hơn 120 lao động, trong đó khoảng 80% là phụ nữ nông thôn. Người lao động có thể sản xuất ngay tại địa phương, vừa tạo thu nhập vừa góp phần duy trì sinh kế nông thôn.

anh-dai-dien-bai-viet-11-1786759928.png
Việc phát triển vùng nguyên liệu và chế biến nông sản sinh thái góp phần tạo việc làm, thu nhập ổn định cho lao động nông thôn, trong đó có đông phụ nữ địa phương.

Với chị Phạm Thị Kiều Oanh, hành trình phát triển RUECO cũng là hành trình theo đuổi một lựa chọn lâu dài. “Tôi không cảm thấy mình đang đánh đổi, mà đang sống đúng với đam mê. Được cống hiến, mang sản phẩm tốt đến cho mọi người, đó là hạnh phúc lớn nhất”, chị Oanh nói.

anh-dai-dien-bai-viet-7-1786759892.png
RUECO hướng tới xây dựng chuỗi giá trị nông sản sinh thái gắn với người nông dân, bảo vệ môi trường và đáp ứng nhu cầu thực phẩm an toàn.

Trong thời gian tới, RUECO đang hướng tới mở rộng chuỗi giá trị của nông sản sinh thái. “Trước kia, RUECO là đơn vị đi đầu trong chuỗi sản phẩm lúa - rươi. Giờ đây, chúng tôi tái định vị là doanh nghiệp dẫn đầu trong chế biến, phân phối các sản phẩm sinh thái. Mong muốn lớn nhất của tôi là RUECO có thể đưa thực phẩm sạch, thực phẩm lành đến với cộng đồng, bằng sự tử tế”, chị Oanh khẳng định./.

Đăng ký đặt báo