Từ áp lực tồn chứa đến nguồn vật liệu được khai thác
Tại phường Duyên Hải, tỉnh Vĩnh Long, Công ty Nhiệt điện Duyên Hải thuộc Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đang vận hành 3 nhà máy gồm Duyên Hải 1, Duyên Hải 3 và Duyên Hải 3 mở rộng, với tổng công suất 3.178MW. Cùng với quá trình phát điện, lượng lớn tro bay và tro xỉ phát sinh đang từng bước được đưa trở lại chuỗi sản xuất, thay vì chỉ được xem là chất thải cần xử lý.
Những ngày gần đây, hình ảnh các xe bồn nối dài chờ nhận tro bay để vận chuyển đến các cơ sở sản xuất xi măng cho thấy thị trường tiêu thụ loại vật liệu này đã có những chuyển biến rõ rệt. Tro bay của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải đã được Bộ Xây dựng chứng nhận hợp quy, đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất xi măng, bê tông và vữa xây.
Với tro xỉ, câu chuyện cũng đang thay đổi theo hướng tích cực. Giai đoạn từ năm 2016 đến hết tháng 6/2024, lượng tro xỉ tồn tại bãi chứa của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải từng lên tới 3,9 triệu tấn. Khối lượng lớn này tạo áp lực không nhỏ đối với hoạt động vận hành, đồng thời đặt ra yêu cầu phải tìm được đầu ra ổn định.
Ông Ngô Văn Sỹ, Giám đốc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải cho biết, trước đây, việc tiêu thụ tro xỉ “rất căng thẳng”, gây áp lực lớn trong quá trình vận hành. Tuy nhiên, những năm gần đây, tình hình đã cải thiện đáng kể khi lượng tro xỉ phát sinh mới cơ bản được tiêu thụ hết.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, các nhà máy thuộc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải phát sinh khoảng 1,026 triệu tấn tro xỉ. Trong số này, 1,023 triệu tấn đã được tiêu thụ, tương đương hơn 99,7%. Đây là kết quả cho thấy khi đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và tìm được thị trường phù hợp, tro xỉ hoàn toàn có thể trở thành nguồn nguyên liệu có giá trị.
Đối với lượng tồn tại bãi, hiện còn khoảng 3,7 triệu tấn. Công ty đã ký các hợp đồng tiêu thụ thường xuyên với nhà thầu và đến nay đã xuất bán hơn 313.000 tấn, chủ yếu phục vụ sản xuất gạch không nung và san lấp công trình. Tro xỉ của doanh nghiệp cũng đã được Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (Bộ Xây dựng) chứng nhận hợp chuẩn để sử dụng làm vật liệu san lấp.
Thực tế tại Duyên Hải cho thấy, việc đưa tro xỉ ra khỏi bãi chứa không chỉ giải quyết vấn đề môi trường mà còn mở thêm một nguồn vật liệu phục vụ xây dựng. Đây cũng là hướng đi đang được nhiều địa phương nghiên cứu nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn khoáng sản tự nhiên.
Khi chất thải công nghiệp trở thành nguyên liệu thứ sinh
Tại Hải Phòng, câu chuyện tận dụng tro xỉ được đặt trong bức tranh rộng hơn của kinh tế tuần hoàn. Mỗi năm, thành phố phát sinh hơn 2 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp thông thường, trong đó tro xỉ và thạch cao từ các nhà máy nhiệt điện, phân bón chiếm hơn 90%.
Việc thực hiện Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 26/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao từ các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong công trình xây dựng đã tạo thêm động lực cho quá trình này.
Số liệu năm 2024 cho thấy, tại khu vực phía đông thành phố, các cơ sở sản xuất phát sinh gần 1,4 triệu tấn tro xỉ nhiệt điện và thạch cao, trong đó gần 1,1 triệu tấn được tái chế, tái sử dụng. Ở khu vực phía tây, lượng phát sinh khoảng 1,44 triệu tấn mỗi năm và khoảng 1,33 triệu tấn đã được tái chế, tái sử dụng. Phần lớn chủ nguồn thải chủ động đưa chất thải trở lại sản xuất hoặc chuyển giao cho các đơn vị có chức năng xử lý.
Cách tiếp cận này được triển khai theo nhiều hướng khác nhau. Công ty TNHH Điện lực Jaks Hải Dương sử dụng tro xỉ làm vật liệu san lấp; tro xỉ đáy lò được dùng làm phụ gia khoáng, còn tro bay được đưa vào sản xuất bê tông, vữa xây, xi măng và vật liệu xây dựng.
Tại Công ty CP Thép Hòa Phát, một phần chất thải phát sinh được tái sử dụng làm nguyên liệu. Xỉ hạt lò cao sau khi nghiền được sử dụng làm phụ gia xi măng; vảy cán được phối trộn với các nguyên phụ liệu khác để đưa vào công đoạn thiêu kết; xỉ luyện thép được tái sử dụng làm phế liệu hoặc chuyển cho các cơ sở sản xuất xi măng. Trong khi đó, Nhà máy sản xuất phân bón DAP Đình Vũ cơ bản xử lý, tiêu thụ lượng tro, xỉ và bã thải thạch cao phát sinh theo hướng không để tồn đọng kéo dài.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phạm Văn Thuấn, tái chế, tái sử dụng tro, xỉ từ các nhà máy nhiệt điện giúp Hải Phòng giảm áp lực khai thác khoáng sản, đồng thời mở ra hướng phát triển phù hợp mục tiêu kinh tế tuần hoàn và bền vững. Tận dụng nguồn vật liệu này còn góp phần giải quyết bài toán chất thải công nghiệp, tạo hiệu quả kinh tế và môi trường lâu dài.
Không chỉ tro xỉ, thạch cao phốt pho cũng đang được nghiên cứu để đưa vào các sản phẩm xây dựng. Công ty CP DAP - Vinachem hiện tồn trữ khoảng 3,85 triệu tấn chất thải thạch cao. Theo Phó Tổng Giám đốc Công ty CP DAP Nguyễn Ngọc Sơn, doanh nghiệp đang tăng cường các phương án xử lý bã thải thạch cao PG, trong đó có chế biến thành phụ gia xi măng, vật liệu làm nền, móng đường giao thông và vật liệu san lấp công trình.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, về lâu dài, cần có cơ chế khuyến khích mạnh hơn đối với những dự án hạ tầng sử dụng vật liệu tái chế, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý, tái sử dụng để từng bước hình thành thị trường tiêu thụ ổn định cho tro, xỉ.
Đây cũng là hướng đã được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ nghiên cứu. Tháng 1/2025, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ “Hoàn thiện công nghệ xử lý bã thải thạch cao phospho của Nhà máy phân bón DAP - Đình Vũ sản xuất phụ gia xi măng, vật liệu làm nền và móng đường giao thông, vật liệu san lấp công trình xây dựng”.
Trước đó, tháng 11/2023, Viện Vật liệu xây dựng phối hợp với Công ty CP DAP Vinachem và Công ty CP Đình Vũ Xanh nghiên cứu, hoàn thiện dây chuyền xử lý bã thạch cao phospho với công suất 30 tấn/giờ. Quá trình thử nghiệm đã sản xuất 3 nhóm sản phẩm, gồm 10.000 tấn phụ gia sản xuất xi măng, 10.000 tấn vật liệu làm nền và móng đường giao thông và 10.000 tấn vật liệu san lấp. Các sản phẩm đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật theo yêu cầu của tiêu chuẩn TCVN.
Cần giải bài toán theo từng cụm nhà máy
Dù tiềm năng lớn, việc tiêu thụ tro xỉ không phải lúc nào cũng thuận lợi. Đặc tính của tro xỉ, chất lượng, vị trí nhà máy và khoảng cách tới nơi sử dụng có thể quyết định trực tiếp hiệu quả kinh tế của quá trình xử lý.
Không phải toàn bộ tro xỉ phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện đều có thể đưa vào sử dụng ngay. Ngay cả với loại đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, nếu phải vận chuyển trên quãng đường quá xa, chi phí logistics cũng có thể khiến doanh nghiệp không còn động lực tiếp nhận. Thực tế thị trường cho thấy có nơi tro xỉ được mua với giá gần 100.000 đồng/tấn khi chưa qua tuyển, nhưng ở nơi khác, dù được cung cấp miễn phí vẫn khó tìm được đơn vị sử dụng.
Trong nhiều năm, ngành Xây dựng đã nghiên cứu các giải pháp sử dụng tro xỉ để sản xuất bê tông, xi măng, vật liệu san lấp, gạch không nung... Tuy nhiên, lượng tro xỉ được đưa vào những mục đích này vẫn còn thấp so với tổng khối lượng phát sinh.
Theo thống kê của Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), lượng tro xỉ, thạch cao từ các nhà máy nhiệt điện than từng được dự báo ở mức khoảng 14,4 triệu tấn/năm và có thể tăng lên 29 triệu tấn/năm khi 43 nhà máy đi vào hoạt động. Trong khi đó, khả năng tiêu thụ mới chỉ đạt khoảng 3 - 4 triệu tấn mỗi năm, chủ yếu phục vụ bê tông đầm lăn, xi măng, bê tông tươi và gạch không nung.
Khi dư địa phát triển thủy điện đã hạn chế, nhu cầu tro xỉ cho bê tông đầm lăn cũng không còn nhiều như trước. Điều này càng cho thấy cần mở rộng các hướng sử dụng khác, nếu không lượng tồn đọng tại các nhà máy có nguy cơ tiếp tục gia tăng.
Một trở ngại khác nằm ở thói quen sử dụng vật liệu xây dựng. Một bộ phận người dân và chủ đầu tư vẫn ưu tiên các sản phẩm nung truyền thống như gạch đỏ, trong khi vật liệu không nung sản xuất từ tro xỉ chưa được sử dụng tương xứng với tiềm năng.
Theo ông Trần Bá Việt - Phó viện trưởng Viện KHCN Xây dựng (IBST), thay vì áp dụng một phương án chung cho tất cả các nhà máy, cần dựa trên quy hoạch nhiệt điện, vị trí các cơ sở sản xuất xi măng và đặc điểm từng khu vực để xây dựng phương án riêng. Ông đề xuất có thể phân chia thành các cụm tuyến như Duyên Hải, Long Phú, Vĩnh Tân, Phả Lại, Nghi Sơn, Thái Bình…
Đối với cụm Duyên Hải và Long Phú, do khoảng cách tới các nhà máy xi măng tương đối xa, trong khi khu vực này có nền đất yếu, IBST định hướng nghiên cứu sử dụng tro xỉ làm vật liệu san lấp. Phạm vi vận chuyển có thể tính toán trong bán kính khoảng 200km để cân đối hiệu quả kinh tế. Một dự án san lấp khu đô thị quy mô 1km2, dự kiến sử dụng khoảng 2 triệu tấn tro xỉ, cũng đang được xem xét làm cơ sở thí điểm tiêu chuẩn quản lý nhà nước về sử dụng tro xỉ trong san lấp.
Với Vĩnh Tân, lợi thế nằm ở vị trí gần TP.HCM, nơi có nhu cầu lớn về bất động sản và vật liệu xây dựng. Theo hướng nghiên cứu của IBST, tro xỉ có thể được sử dụng cho các dự án sản xuất bê tông rỗng, gạch rỗng phục vụ thị trường TP.HCM hoặc dùng tro bay ướt cho bê tông cấp phối. Các phương án được tính toán trên cơ sở thành phần hóa học của tro xỉ, cự ly vận chuyển và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Những tính toán theo từng cụm cho thấy bài toán tro xỉ không chỉ nằm ở công nghệ xử lý mà còn liên quan trực tiếp đến thị trường và chi phí logistics. Khi ba yếu tố gồm chất lượng vật liệu, nhu cầu sử dụng và khoảng cách vận chuyển được đặt trong cùng một bài toán, khả năng hình thành thị trường tiêu thụ ổn định sẽ rõ ràng hơn.
Giai đoạn 2025 - 2030, nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án hạ tầng, xây dựng và công nghiệp tại Hải Phòng được dự báo tiếp tục tăng. Riêng hoạt động san lấp cần khối lượng lớn đất, đá, cát, qua đó tạo áp lực ngày càng lớn lên nguồn tài nguyên khoáng sản tự nhiên. Đây cũng là dư địa để vật liệu tái chế từ tro xỉ và thạch cao tham gia sâu hơn vào thị trường.
Trong bối cảnh đó, việc tận dụng tro xỉ không còn đơn thuần là câu chuyện xử lý chất thải của ngành điện. Nếu có cơ chế phù hợp, công nghệ đáp ứng yêu cầu và thị trường đủ lớn, nguồn vật liệu này có thể trở thành một mắt xích của kinh tế tuần hoàn, vừa giảm áp lực lên bãi chứa, vừa hạn chế khai thác tài nguyên tự nhiên.
Bài toán còn lại là tạo được sự kết nối giữa nhà máy phát sinh, doanh nghiệp xử lý, đơn vị sử dụng và các dự án hạ tầng. Khi lợi ích môi trường được chuyển hóa thành hiệu quả kinh tế cụ thể, tro xỉ mới có thể thực sự rời khỏi các bãi chứa để trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ phát triển.
Trần Huyền