Sáng 23/10, tọa đàm “Chuyển đổi phương tiện xanh: Gỡ nút thắt hạ tầng cho chung cư Hà Nội” do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội phối hợp với UBND phường Cầu Giấy tổ chức đã ghi nhận nhiều ý kiến từ cơ quan quản lý, chuyên gia và đại diện ban quản trị chung cư. Những trao đổi cho thấy để phương tiện xanh đi vào đời sống, hạ tầng đô thị cần được kết nối chặt chẽ hơn với điều kiện thực tế của từng tòa nhà và nhu cầu của từng cộng đồng dân cư.

Theo số liệu Sở Xây dựng Hà Nội công bố tại tọa đàm, thành phố hiện có 2.313 vị trí trạm sạc, 10.209 cổng sạc và khoảng 1.650 tủ đổi pin. Đây là nền tảng ban đầu cho quá trình mở rộng sử dụng phương tiện điện trên địa bàn. Tuy nhiên, tổng số điểm sạc chưa phản ánh đầy đủ việc người dân ở từng khu dân cư có thể tiếp cận dịch vụ thuận tiện hay không.
Các ý kiến trao đổi tại Tọa đàm cho thấy, thực trạng trên xuất phát từ ba rào cản chính. Thứ nhất là giới hạn kỹ thuật và dung lượng hệ thống điện ban đầu. Phần lớn các khu chung cư (từ phân khúc trung cấp đến các chung cư cũ cải tạo) được thiết kế và phê duyệt quy hoạch kỹ thuật từ nhiều năm trước, khi nhu cầu về phương tiện giao thông điện chưa xuất hiện trong cấu trúc tải điện tiêu thụ. Hệ thống cáp ngầm, trạm biến áp phân phối và các bảng điện hạ thế tại tầng hầm đều được tính toán theo hệ số phụ tải sinh hoạt truyền thống. Khi hàng loạt ô tô điện, xe máy điện cùng cắm sạc vào khung giờ cao điểm (thường là ban đêm - thời điểm cư dân trở về nhà), nguy cơ quá tải, sập nguồn hoặc chập cháy hệ thống điện là mối lo trực tiếp của các ban quản lý vận hành.
Thứ hai là “hàng rào” PCCC và tâm lý bất an của không ít người dân. Trong bối cảnh các sự cố liên quan đến an toàn cháy nổ phương tiện pin lithium để lại hậu quả nặng nề trong dư luận xã hội thời gian qua, các quy định về PCCC tại tầng hầm chung cư được thắt chặt tối đa. Sự thiếu vắng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đồng bộ, cụ thể về vị trí bố trí trạm sạc, khoảng cách an toàn, hệ thống dập lửa chuyên dụng cho pin xe điện khiến các Ban quản trị và đơn vị vận hành tòa nhà rơi vào trạng thái “thà cấm còn hơn làm sai”. Không ít chung cư đã phải đưa ra quyết định từ chối hoặc hạn chế việc sạc xe điện dưới tầng hầm, đẩy người dân vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Thứ ba là xung đột lợi ích tài chính và sự mơ hồ về hành lang pháp lý sở hữu chung. Tầng hầm và không gian để xe tại chung cư thuộc sở hữu chung hoặc diện tích khai thác theo hợp đồng dịch vụ. Việc lắp đặt một trạm sạc công suất lớn đòi hỏi không gian diện tích, sự can thiệp vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật chung, nhưng lợi ích kinh tế trực tiếp lại chỉ phục vụ một nhóm cư dân sở hữu xe điện. Sự thiếu vắng các quy định phân chia chi phí đầu tư ban đầu, cơ chế tính giá điện kinh doanh hay điện sinh hoạt, cùng những tranh chấp quanh quỹ bảo trì tòa nhà đã biến việc lắp đặt một trụ sạc thành một bài toán phức tạp giữa Chủ đầu tư, Ban quản trị và cộng đồng cư dân.
Với cư dân chung cư, nơi đỗ và sạc xe thường gắn trực tiếp với lịch sinh hoạt hằng ngày. Một trạm sạc ở ngoài khu nhà có thể đáp ứng nhu cầu của người sử dụng ô tô trên các tuyến đường, nhưng chưa chắc phù hợp với người muốn sạc xe máy điện sau giờ làm việc, hoặc với gia đình khó di chuyển phương tiện đến một điểm sạc xa nhà.

Sự chênh lệch giữa hạ tầng trên quy mô toàn thành phố và khả năng tiếp cận tại từng tòa nhà vì vậy trở thành một trong những điểm nghẽn của chuyển đổi xanh. Đặc biệt, nhiều chung cư được xây dựng trước khi xe điện phổ biến nên thiết kế ban đầu chưa tính đầy đủ đến phụ tải điện, diện tích sạc, phương án vận hành và các yêu cầu an toàn tương ứng.
Thực tế tại chung cư New Skyline, khu đô thị Văn Quán, phường Hà Đông, cho thấy sức ép đang tăng lên. Kỹ sư Phạm Xuân Điệp, Trưởng ban quản trị tòa nhà, cho biết số xe máy điện của cư dân tăng từ khoảng 30 chiếc vào đầu năm 2024 lên 102 chiếc tại thời điểm gần đây. Số lượng phương tiện tăng hơn ba lần kéo theo nhu cầu về chỗ đỗ, nguồn điện và tổ chức quản lý, trong khi diện tích chung khó mở rộng.
Tại phường Cầu Giấy, ông Lương Mậu Hùng, Phó Chủ tịch UBND phường, cho biết địa bàn có 58 chung cư nhưng mới có một tòa nhà lắp được trạm sạc xe điện. Con số phản ánh sự khác biệt giữa nhu cầu chuyển đổi phương tiện và khả năng triển khai hạ tầng ở cấp cơ sở.
Điểm nghẽn không chỉ nằm ở số lượng trạm sạc, mà còn ở khả năng tiếp cận an toàn, thuận tiện và phù hợp với điều kiện của từng cộng đồng cư dân.

Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, chuyển đổi phương tiện xanh tạo ra những lợi ích vượt ra ngoài phạm vi người trực tiếp sử dụng xe. Khi vận hành, xe điện không phát thải khí thải tại ống xả, góp phần giảm nguồn phát thải trực tiếp trên đường phố. Tuy nhiên, mức giảm phát thải trong toàn bộ vòng đời phương tiện còn phụ thuộc vào nguồn điện, quá trình sản xuất xe, pin và việc xử lý sau sử dụng.
Trong khi đó, chi phí để hạ tầng hoạt động an toàn lại phát sinh ngay tại tòa nhà: khảo sát kỹ thuật, nâng cấp hệ thống điện, bố trí diện tích, lắp đặt thiết bị, vận hành, bảo trì và tổ chức phương án phòng cháy, chữa cháy.
Điều này đặt ra câu hỏi: Ai đầu tư, ai sử dụng, ai trả tiền và ai chịu trách nhiệm nếu phát sinh sự cố?
Giao thông vận tải đô thị sử dụng động cơ đốt trong đang là tác nhân hàng đầu phát thải khí nhà kính và các chất ô nhiễm không khí nguy hại, đặc biệt là bụi mịn PM2.5. Theo số liệu tại Kế hoạch số 400/KH-UBND của UBND thành phố Hà Nội, nồng độ PM2.5 trung bình năm giai đoạn 2023-2025 thường xuyên ở mức trên 40 µg/m³; năm 2025 đạt 48,5 µg/m³. Số ngày vượt ngưỡng QCVN 05:2023/BTNMT chiếm khoảng 1/3 số ngày trong năm. Chi phí kinh tế của tình trạng ô nhiễm này là một khoản ngoại ứng tiêu cực mà toàn xã hội phải gánh chịu, nhưng các chủ phương tiện xe xăng lại không phải chi trả trực tiếp.
Chính sách chuyển đổi sang phương tiện giao thông xanh chính là công cụ kinh tế nhằm triệt tiêu nguồn phát thải tại gốc. Tuy nhiên, khi quá trình chuyển đổi này bị nghẽn lại ở cổng các khu chung cư - nơi sinh sống của hàng triệu cư dân Thủ đô - thì lợi ích vĩ mô của chiến lược giảm phát thải quốc gia bị bẻ gãy ở tầng vi mô. Người dân có nguyện vọng chuyển đổi sang xe điện để đóng góp vào mục tiêu môi trường chung nhưng lại vấp phải rào cản hạ tầng cục bộ. Sự cản trở này tạo ra một vòng luẩn quẩn: người dân ngần ngại mua xe điện vì sợ không có chỗ sạc, còn nhà đầu tư hạ tầng ngần ngại rót vốn vào chung cư vì sợ rủi ro pháp lý và chi phí chìm lớn.
Ông Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam cho rằng, chính quyền cần đóng vai trò điều phối, kết nối ban quản trị, đơn vị quản lý vận hành và cư dân để giải quyết những bất đồng liên quan đến vị trí trạm sạc, khu vực để xe và trách nhiệm bảo đảm an toàn. Mỗi chung cư có đặc điểm thiết kế, quy mô và điều kiện vận hành khác nhau, do đó cần khảo sát cụ thể, tránh áp dụng máy móc một mô hình chung.
Ông cũng đề xuất nghiên cứu phát triển tủ đổi pin nhằm giảm nhu cầu bố trí không gian sạc tại chung cư. Tuy nhiên, phương án này cần phù hợp với điều kiện từng công trình và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu an toàn.

Nếu toàn bộ chi phí được phân bổ đều cho cư dân, những người chưa sử dụng xe điện có thể băn khoăn về tính công bằng. Ngược lại, nếu người sử dụng phải tự gánh mọi chi phí ban đầu, mức đầu tư có thể quá lớn đối với từng hộ gia đình. Với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, hiệu quả đầu tư còn phụ thuộc vào lượng xe thực tế, thời gian thu hồi vốn và điều kiện sử dụng không gian của tòa nhà.
Vì vậy, một phương án khả thi cần nhận diện đầy đủ các khoản chi và công khai cách phân bổ. Chẳng hạn, phần điện năng tiêu thụ của từng phương tiện cần được đo đếm rõ ràng; chi phí dịch vụ, bảo trì và trách nhiệm nâng cấp hạ tầng cũng cần được thỏa thuận trước khi triển khai.
Ở đây, giá dịch vụ không chỉ là giá điện. Đó còn là chi phí để duy trì một hệ thống sạc an toàn, có người quản lý, có bảo trì và có cơ chế xử lý sự cố. Khi các khoản này được công khai, cư dân có thêm cơ sở để so sánh, lựa chọn và giám sát.
Không gian chung cũng là một nguồn lực kinh tế
Tầng hầm chung cư không phải khoảng trống có thể tùy ý bổ sung thiết bị. Diện tích này thường phải đáp ứng đồng thời nhu cầu đỗ xe, lối đi, vận hành kỹ thuật và an toàn của tòa nhà.
Dành thêm một khu vực cho sạc xe đồng nghĩa với việc phải xem xét tác động đến các nhu cầu sử dụng khác. Vì vậy, “chi phí” của trạm sạc còn bao gồm chi phí cơ hội của không gian: diện tích đó có thể đang phục vụ việc đỗ xe, lưu thông hoặc một chức năng chung khác.
Giải quyết bài toán này đòi hỏi công khai phương án bố trí, đánh giá tác động đến sinh hoạt của cư dân và đưa nội dung sử dụng phần diện tích liên quan ra thảo luận, quyết định theo quy định áp dụng đối với từng tòa nhà.

Phát triển hạ tầng sạc tại chung cư không thể tách rời yêu cầu an toàn điện và phòng cháy, chữa cháy. Với những tòa nhà hiện hữu, việc lắp thêm thiết bị cần bắt đầu bằng đánh giá năng lực hệ thống điện, đặc điểm khu vực dự kiến bố trí và điều kiện vận hành thực tế.
Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội tại tọa đàm cho rằng cần rà soát nhu cầu sử dụng xe điện, đánh giá điều kiện của từng chung cư và phối hợp với ngành điện, cơ quan chuyên môn, ban quản trị cùng doanh nghiệp để xây dựng phương án phù hợp.
Từ góc độ kinh tế, đầu tư cho an toàn không nên được xem là khoản phụ phát sinh sau cùng. Đây là một phần của chi phí hạ tầng, giúp hạn chế nguy cơ gián đoạn vận hành và thiệt hại đối với cư dân, tài sản chung cũng như đơn vị cung cấp dịch vụ.
Thực tế, nhiều chung cư được xây dựng khi xe điện chưa phổ biến nên chưa tính toán đầy đủ về công suất cấp điện, khu vực sạc và yêu cầu phòng cháy, chữa cháy. Trong khi số lượng xe tăng nhanh, diện tích tầng hầm và không gian dành cho việc đỗ, sạc vẫn hạn chế, khiến công tác tổ chức và vận hành gặp nhiều khó khăn.
Tại chung cư New Skyline, Khu đô thị Văn Quán, phường Hà Đông, ông Phạm Xuân Điệp, Trưởng ban quản trị tòa nhà cho biết, số lượng xe máy điện tăng từ khoảng 30 chiếc đầu năm 2024 lên 102 chiếc vào thời điểm gần đây. Trước nhu cầu phát sinh, ban quản trị phải chủ động điều chỉnh vị trí sạc nhằm bảo đảm an toàn.
Tuy nhiên, chuyển khu vực sạc lên mặt đất lại nảy sinh những bất cập như thiếu mái che, khó kiểm soát lượng điện tiêu thụ và không gian tương đối mở, khiến người ngoài cũng có thể tiếp cận. Ban quản trị đã lắp đặt thêm thiết bị bảo vệ, trong đó có hệ thống tự ngắt điện khi phát hiện dòng rò. Dù vậy, nguy cơ mất an toàn vẫn có thể phát sinh nếu người sử dụng cắm sạc rồi rời đi mà không theo dõi tình trạng phương tiện.

Với mỗi tòa nhà, các nội dung cần được làm rõ gồm khả năng cấp điện, thiết kế và lắp đặt, thiết bị bảo vệ, quản lý quá trình sạc, bảo trì và phương án ứng phó khi xảy ra sự cố. Việc lựa chọn giải pháp cụ thể cần có sự tham gia của đơn vị chuyên môn và tuân thủ quy định, quy chuẩn áp dụng tại thời điểm triển khai.
Đối với những chung cư chưa đủ điều kiện bố trí điểm sạc, phương án chuyển tiếp có thể là kết nối cư dân với điểm sạc tập trung gần khu nhà, đồng thời tiếp tục khảo sát khả năng cải tạo hoặc kiến nghị bổ sung hạ tầng công cộng. Cách làm này giúp người dân có thêm lựa chọn trong khi tòa nhà chuẩn bị các điều kiện cần thiết.
Một hệ thống sạc hiệu quả phải đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: thuận tiện cho người sử dụng, minh bạch về chi phí và an toàn cho toàn bộ cư dân.

Các ý kiến tại tọa đàm cho thấy không một chủ thể riêng lẻ nào có thể giải quyết toàn bộ bài toán hạ tầng xe điện tại chung cư. Ban quản trị hiểu nhu cầu của tòa nhà nhưng cần hướng dẫn chuyên môn; ngành điện đánh giá năng lực cấp điện; chính quyền cơ sở có vai trò kết nối, điều phối; doanh nghiệp cung cấp thiết bị và dịch vụ; còn cư dân là người trực tiếp sử dụng, đóng góp ý kiến và giám sát.
Để quá trình phối hợp đi vào thực chất, có thể hình dung chuỗi giải pháp theo từng bước:
| Chủ thể | Vai trò cần làm rõ |
|---|---|
| Chính quyền địa phương | Nắm nhu cầu trên địa bàn; kết nối cơ quan chuyên môn, ngành điện, doanh nghiệp và các chung cư; hỗ trợ tìm phương án hạ tầng phù hợp. |
| Cơ quan chuyên môn và ngành điện | Hướng dẫn đánh giá hiện trạng, khả năng cấp điện, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện an toàn theo quy định. |
| Ban quản trị, đơn vị quản lý vận hành | Khảo sát nhu cầu cư dân, công khai phương án sử dụng không gian chung, tổ chức lấy ý kiến và giám sát vận hành. |
| Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ | Đề xuất thiết kế, đầu tư và vận hành; công khai mức phí, điều kiện bảo trì, trách nhiệm và thời hạn cung cấp dịch vụ. |
| Cư dân | Tham gia thảo luận, lựa chọn phương án, tuân thủ quy định sử dụng và giám sát chất lượng dịch vụ. |
Trong đó, minh bạch hợp đồng và cơ chế tài chính có ý nghĩa quyết định đối với sự đồng thuận lâu dài. Trước khi lựa chọn nhà cung cấp, tòa nhà cần làm rõ thời hạn sử dụng vị trí lắp đặt, quyền sở hữu thiết bị, cách tính phí, trách nhiệm bảo trì và phương án xử lý khi ngừng cung cấp dịch vụ.
Với các chung cư có nhu cầu còn thấp hoặc diện tích hạn chế, đầu tư một hệ thống lớn ngay từ đầu có thể làm tăng chi phí bình quân cho mỗi người sử dụng. Phương án triển khai theo giai đoạn, trên cơ sở khảo sát nhu cầu và thiết kế có tính đến khả năng mở rộng, có thể giúp sử dụng vốn hiệu quả hơn. Tính khả thi của từng phương án vẫn phải được đánh giá theo điều kiện cụ thể của công trình.
Tủ đổi pin và điểm sạc dùng chung: Cần lựa chọn theo thực tế
Bên cạnh điểm sạc tại chỗ, tủ đổi pin hoặc điểm sạc dùng chung gần khu dân cư có thể là lựa chọn cho một bộ phận người sử dụng xe máy điện. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương án phụ thuộc vào loại phương tiện, khả năng tương thích pin, khoảng cách tiếp cận, giá dịch vụ và điều kiện an toàn tại địa điểm bố trí.
TS Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, đề xuất thúc đẩy trạm đổi pin để giảm áp lực về không gian, đồng thời chỉ bố trí trạm sạc khi đáp ứng các yếu tố an toàn. Ông cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc phát triển giao thông công cộng trong lộ trình giao thông xanh.
Như vậy, lời giải không nhất thiết giống nhau ở mọi chung cư. Nơi có đủ điều kiện có thể nghiên cứu bố trí khu sạc phù hợp; nơi hạ tầng hạn chế có thể kết nối với điểm sạc, đổi pin bên ngoài hoặc dùng chung trong phạm vi khu dân cư.

Thạc sĩ Nguyễn Tuyển, Phó trưởng phòng Quản lý vận tải và An toàn giao thông, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, riêng lĩnh vực xe buýt, thành phố đã chuyển đổi khoảng 1.000 xe và đặt mục tiêu đến hết năm 2026 có 60% xe buýt chuyển sang sử dụng điện.
Tuy nhiên, số lượng trạm sạc, tủ đổi pin trên toàn thành phố chưa đồng nghĩa với việc người dân tại mọi khu chung cư đều có thể tiếp cận thuận tiện.
Theo ông Nguyễn Tuyển, Hà Nội cần rà soát nhu cầu sử dụng xe điện, đánh giá điều kiện thực tế của từng chung cư để phối hợp với ngành điện, cơ quan chuyên môn, ban quản trị và doanh nghiệp xây dựng phương án phù hợp.

Đại diện Sở Xây dựng cho rằng, cần phân định rõ trách nhiệm giữa ban quản trị, chủ đầu tư, chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn. Việc sử dụng phần sở hữu chung, thay đổi cách bố trí khu vực để xe hoặc phát sinh chi phí chung phải đúng thẩm quyền, tuân thủ quy định pháp luật và bảo đảm quyền lợi cư dân.
Đối với phương án kỹ thuật, cần đánh giá đầy đủ khả năng cấp điện, điều kiện mặt bằng và yêu cầu phòng cháy, chữa cháy. Những trường hợp thuộc diện phải thẩm định, kiểm tra hoặc chấp thuận phải thực hiện đầy đủ thủ tục trước khi triển khai. Các sở, ngành cần tham mưu hướng dẫn thống nhất để chung cư xác định rõ nội dung thuộc thẩm quyền ban quản trị, nội dung cần lấy ý kiến cư dân và thủ tục chuyên ngành phải thực hiện.
Về kinh phí, việc huy động đóng góp của cư dân hoặc kêu gọi doanh nghiệp đầu tư đều phải bảo đảm công khai, minh bạch và đúng quy định. Đồng thời, cần phân biệt rõ diện tích thuộc khu vực chung cư với đất công; việc bố trí trạm sạc trên đất công phải được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định.
Ông Nguyễn Tuyển cũng đề cập Thông tư số 31/2026/TT-BXD sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư, trong đó có các quy định liên quan đến khu vực để xe điện, khu vực sạc và đổi pin. Việc áp dụng cần gắn với điều kiện cụ thể của từng công trình, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn.
Một hệ sinh thái giao thông xanh hiệu quả không chỉ được đo bằng số trạm đã lắp đặt. Điều người dân quan tâm là có thể sạc ở đâu, mất bao lâu, chi phí bao nhiêu và mức độ an toàn được bảo đảm như thế nào.
Vì vậy, cùng với việc thống kê số điểm sạc trên toàn thành phố, quá trình quản lý có thể chú trọng hơn đến khả năng tiếp cận của cư dân tại các khu chung cư: khu vực nào thiếu dịch vụ, tòa nhà nào có thể cải tạo, nơi nào cần điểm sạc công cộng ở gần và nhóm cư dân nào đang gặp khó khăn khi chuyển đổi.
Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, đầu tư hạ tầng đúng chỗ giúp giảm chi phí xã hội của quá trình chuyển đổi. Người dân bớt thời gian và quãng đường tìm điểm sạc; doanh nghiệp có cơ sở lựa chọn vị trí phù hợp với nhu cầu; chính quyền có thêm thông tin để phân bổ nguồn lực; còn cộng đồng được hưởng lợi từ một môi trường giao thông đô thị sạch hơn.
Tuy nhiên, chuyển đổi phương tiện cá nhân chỉ là một phần của bức tranh. Để giảm áp lực lên đường sá, chỗ đỗ và năng lượng, Hà Nội cũng cần tiếp tục phát triển giao thông công cộng, kết nối thuận tiện giữa chung cư với các tuyến vận tải và tạo điều kiện cho những hình thức đi lại phù hợp khác.
Khi chính sách, hạ tầng kỹ thuật, nguồn vốn và sự đồng thuận của cư dân cùng được tháo gỡ, phương tiện xanh mới có điều kiện trở thành một lựa chọn thiết thực trong đời sống hằng ngày. Từ mỗi tầng hầm chung cư đến mạng lưới giao thông toàn thành phố, chuyển đổi xanh cần được xây dựng trên nguyên tắc an toàn, công bằng trong chia sẻ chi phí và thuận tiện trong tiếp cận.