
Áp lực từ thị trường và những hạn chế trong chuỗi cung ứng
Ngày 30/10, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản và các giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026. Tại cuộc họp, các cơ quan quản lý đã tập trung đánh giá kết quả đạt được, đồng thời nhận diện những hạn chế đang ảnh hưởng đến khả năng duy trì đà tăng trưởng của toàn ngành.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, trong 10 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 62,891 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 84,7% kế hoạch năm. Kim ngạch nhập khẩu đạt 44,287 tỷ USD, tăng 9,2%, đưa mức xuất siêu của toàn ngành lên khoảng 18,6 tỷ USD, tăng 4,7%. Trong đó, lâm sản xuất siêu 13,01 tỷ USD, thủy sản đạt 7,73 tỷ USD.
Hoạt động sản xuất cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực. Sản lượng thịt lợn hơi đạt khoảng 4,74 triệu tấn, tăng 4,4%; thịt gia cầm đạt 2,26 triệu tấn, tăng 5,5%; sản lượng thủy sản ước đạt 8,81 triệu tấn, tăng 3,8%. Trên cơ sở kết quả này, ngành nông nghiệp dự kiến đạt mức tăng trưởng 4,3-4,4% trong quý IV, qua đó hướng tới mục tiêu tăng trưởng 4% cả năm 2026.
Đáng chú ý, rau quả đang trở thành một trong những điểm sáng của hoạt động xuất khẩu. Theo số liệu từ Cục Hải quan do Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) công bố, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm đạt 7,28 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đặc biệt, ngành rau quả đã có ba tháng liên tiếp ghi nhận giá trị xuất khẩu vượt 1 tỷ USD mỗi tháng.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, với kim ngạch nhập khẩu rau quả Việt Nam đạt 4,72 tỷ USD trong 9 tháng, tăng 22,4% và chiếm 64,8% tổng giá trị xuất khẩu của ngành hàng. Kết quả này mở ra cơ hội đưa kim ngạch rau quả tiến gần mốc 10 tỷ USD trong năm 2026. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu tập trung lớn vào một thị trường cũng khiến doanh nghiệp phải chú trọng hơn đến khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay là kết quả tăng trưởng xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc lợi ích kinh tế được phân bổ tương xứng đến người trực tiếp sản xuất. Theo đánh giá của Thứ trưởng Võ Văn Hưng, nông dân và các hợp tác xã quy mô nhỏ vẫn gặp khó khăn về vốn lưu động, thiếu kho chứa, kho sấy đạt tiêu chuẩn. Khi bước vào thời điểm thu hoạch tập trung, nhiều hộ không đủ điều kiện bảo quản nên phải bán nhanh sản phẩm, dễ rơi vào tình trạng bị ép giá.
Khó khăn còn xuất phát từ sự thiếu đồng bộ của hệ thống chế biến và logistics. Các cơ sở chế biến sâu hiện mới vận hành khoảng 60-80% công suất thiết kế do hạn chế về kho lạnh và trung tâm logistics dùng chung. Trong khi đó, chi phí vận chuyển, bảo quản và lưu kho tiếp tục tạo áp lực lên giá thành sản phẩm. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, chi phí logistics bình quân trên thế giới vào khoảng 10%, còn tại Việt Nam ở mức 16%, thậm chí một số mặt hàng phải chịu mức chi phí trên 30%.
Ở khâu sản xuất, tình trạng cung vượt cầu cục bộ vẫn có nguy cơ tái diễn. Diện tích lúa thu đông giảm 12% có thể tác động đến nguồn cung vào cuối năm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Ngược lại, thịt lợn, gia cầm và đường đang có nguồn cung tương đối dồi dào nhưng sức mua trên thị trường chưa phục hồi đồng đều. Chi phí phân bón, thức ăn chăn nuôi, lãi vay và vận tải duy trì ở mức cao, trong khi giá bán nhiều mặt hàng không tăng tương ứng. Một số sản phẩm như cà phê ghi nhận sản lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị giảm; gạo và cao su cùng suy giảm cả về lượng lẫn giá.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đặc biệt lưu ý tình trạng được mùa nhưng khó tiêu thụ, khiến người sản xuất phải chấp nhận bán với giá thấp. Với sầu riêng, phần lớn sản phẩm hiện vẫn được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, trong khi thời gian thu hoạch rộ chỉ kéo dài khoảng ba tháng. Do khả năng bảo quản còn hạn chế, nếu không tổ chức tiêu thụ kịp thời, nông dân rất dễ rơi vào thế bị động. Ngành mía đường cũng chưa khai thác hiệu quả tiềm năng khi nhiều nhà máy còn hạn chế về công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường và kiểm soát giá thành.

Bên cạnh những bất cập nội tại, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải thích ứng với các thay đổi về chính sách thương mại, quy định kiểm dịch và hàng rào kỹ thuật tại các thị trường nhập khẩu. Cuối tháng 10/2026, Văn phòng SPS Việt Nam thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thông tin về Thông báo số 150 năm 2026 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), liên quan đến điều chỉnh quy định đăng ký đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm.
Theo đó, hồ sơ đăng ký được thực hiện trực tuyến thông qua Hệ thống một cửa thương mại quốc tế hoặc Dịch vụ hành chính công hải quan. Nếu hồ sơ đáp ứng đầy đủ yêu cầu, thời gian tiếp nhận và phê duyệt là ba ngày làm việc; doanh nghiệp được cấp mã số đăng ký có hiệu lực dài hạn và phải cập nhật thông tin trong vòng 60 ngày khi có thay đổi.
Đánh giá về nội dung điều chỉnh, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, cho biết biểu mẫu đăng ký dành cho doanh nghiệp đã được đơn giản hóa, số lượng thông tin cần khai báo giảm từ 20 xuống còn 10 mục. Thời gian xử lý hồ sơ cũng được rút ngắn đáng kể nếu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ giấy tờ theo quy định.
Tuy nhiên, ông Ngô Xuân Nam lưu ý: "Quy định mới của Tổng cục Hải quan Trung Quốc nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm nhập khẩu, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm nhập khẩu, các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng nghiên cứu, áp dụng, đáp ứng được quy định mới của thị trường nhập khẩu".
Điều này cho thấy, việc duy trì thị phần xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà còn đòi hỏi doanh nghiệp chủ động hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng. Hải quan Trung Quốc vẫn có quyền kiểm tra thực địa, đối chiếu thông tin và kiểm tra chéo tại cửa khẩu. Những trường hợp khai báo thiếu trung thực hoặc không khớp với thực tế có thể bị yêu cầu điều chỉnh, thậm chí bị thu hồi mã số đăng ký.
Tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh
Trước những thách thức trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm là duy trì đà tăng trưởng của ba nhóm hàng chủ lực gồm gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả; đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn cho những ngành hàng chưa đạt mục tiêu đề ra.

Đối với thủy sản, các giải pháp cần tập trung vào kiểm soát chất lượng tôm, cá tra, bảo đảm an toàn toàn chuỗi, xử lý các vụ việc liên quan đến phòng vệ thương mại và thực hiện nghiêm các yêu cầu chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Với rau quả, đặc biệt là sầu riêng, việc quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và chất lượng sản phẩm cần được thực hiện chặt chẽ hơn. Các ngành hàng cà phê, gỗ, cao su cũng phải hoàn thiện dữ liệu nguồn gốc, đáp ứng quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đồng thời đề xuất tăng cường theo dõi diễn biến cung cầu, giá cả, tồn kho, đơn hàng và chi phí vận chuyển theo từng ngành hàng, vùng sản xuất. Trước các vụ thu hoạch lớn, cần chủ động xây dựng phương án tiêu thụ tương ứng với từng kịch bản thị trường, qua đó nhận diện sớm nguy cơ dư cung, giảm giá hoặc ùn tắc hàng hóa.
Cùng với công tác dự báo, tổ chức sản xuất phải chuyển dần sang phương thức căn cứ vào nhu cầu thực tế và đơn hàng. Việc quy hoạch vùng trồng, vùng nuôi cần gắn với năng lực chế biến, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng tiêu thụ, hạn chế tình trạng phát triển tự phát theo phong trào. Các mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua, chế biến, phân phối cũng cần được củng cố thông qua những hợp đồng có tính ổn định lâu dài.
Để giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, cơ quan quản lý định hướng mở rộng hoạt động xúc tiến thương mại tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh; đồng thời tháo gỡ các rào cản đối với những mặt hàng như sầu riêng, cao su, sắn và gỗ.
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đánh giá cao những kết quả ngành nông nghiệp đạt được trong 10 tháng đầu năm và nhận định mục tiêu tăng trưởng ít nhất 4% trong năm 2026 có cơ sở để hoàn thành. Kim ngạch xuất khẩu nông sản dự kiến vượt 74 tỷ USD, tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành không chỉ tập trung vào chỉ tiêu xuất khẩu mà phải giải quyết những bất cập đang ảnh hưởng trực tiếp đến người sản xuất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao phối hợp với Bộ Công Thương theo dõi sát tình hình thu hoạch, chế biến và tiêu thụ; đẩy nhanh số hóa dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, kiểm soát truy xuất nguồn gốc và ngăn chặn gian lận xuất xứ. Đáng chú ý, hai bộ cần nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Sàn giao dịch nông, thủy sản nhằm tăng cường kết nối giao thương, quảng bá sản phẩm và minh bạch hóa thông tin thị trường.
Về dài hạn, Phó Thủ tướng yêu cầu đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng và chủ động nguồn giống, nhất là giống lợn, tôm, cá. Hoạt động nghiên cứu khoa học phải gắn với yêu cầu thực tiễn, tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Bộ Công Thương cần phối hợp bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu dịp Tết Nguyên đán, thúc đẩy kết nối doanh nghiệp trong nước với hệ thống phân phối quốc tế, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các rào cản thương mại và đơn giản hóa thủ tục hải quan.
Nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy mở cửa thị trường sang khả năng thâm nhập và duy trì thị trường lâu dài, Thứ trưởng Võ Văn Hưng cho rằng đây là hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cũng khẳng định không thể để người nông dân tiếp tục tự xoay xở trước bài toán được mùa, mất giá, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương xử lý những điểm nghẽn về hạ tầng, logistics, giống và thị trường, tạo nền tảng duy trì tăng trưởng ngành nông nghiệp trên 4% trong năm 2027.