
Từ chuẩn hóa phương pháp đến bảo đảm tính pháp lý của kết quả giám định
Cùng với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, việc chuẩn hóa các phương pháp phân tích đang trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường năng lực phát hiện, đánh giá và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm. Đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động quan trắc, đồng thời bảo đảm tính khoa học của các kết quả được sử dụng trong quá trình thanh tra, kiểm tra và giám định tư pháp về môi trường.
Theo kế hoạch, trong năm 2026, Cục Môi trường tiếp tục chủ trì xây dựng hai quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Một quy chuẩn tập trung kiểm soát các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trong nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm, hàng hóa và thiết bị. Quy chuẩn còn lại quy định các yêu cầu về môi trường đối với tàu biển đã qua sử dụng nhập khẩu để phá dỡ. Cả hai dự kiến được trình ban hành trong quý II/2027.
Song song với việc xây dựng quy chuẩn, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ lấy mẫu, phân tích và xác định các thông số môi trường cũng đang được tiếp tục hoàn thiện. Hiện có 6 Tiêu chuẩn Việt Nam được Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia triển khai quy trình ban hành. Phạm vi điều chỉnh trải rộng trên nhiều thành phần môi trường, từ nước, đất, trầm tích, chất thải rắn đến không khí.
Trong đó, đối với môi trường nước, các tiêu chuẩn hướng đến hướng dẫn lấy mẫu trầm tích tại khu vực lục địa và cửa sông, đồng thời hoàn thiện phương pháp xác định crôm hóa trị VI bằng kỹ thuật phân tích dòng chảy (FIA và CFA) kết hợp đo phổ. Với đất, bùn thải, trầm tích và chất thải rắn, phương pháp xác định crôm hóa trị VI cũng được đưa vào nhóm nội dung cần chuẩn hóa, góp phần nâng cao khả năng nhận diện và đánh giá các chất ô nhiễm trong nền mẫu rắn.
Ở lĩnh vực không khí, những nội dung đang được xem xét tập trung vào xác định bụi cadmi và các hợp chất cadmi tại nơi làm việc bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa và nhiệt điện; phân tích các dioxin, furan clo hóa (PCDD/PCDF) và xác định tổng bụi lơ lửng (TSP) trong không khí xung quanh thông qua phương pháp lấy mẫu thể tích lớn.
Lộ trình hoàn thiện tiếp tục được mở rộng trong năm 2027, khi Cục Môi trường dự kiến rà soát, trình ban hành thêm 10 Tiêu chuẩn Việt Nam. Các tiêu chuẩn này không chỉ bổ sung phương pháp xác định chất ô nhiễm mà còn hướng đến kiểm soát sai số, đánh giá độ không đảm bảo đo và nâng cao tính nhất quán của kết quả phân tích.
Đối với không khí và khí thải, nhóm tiêu chuẩn dự kiến tập trung vào phân tích các hợp chất hữu cơ bán bay hơi trong khí thải, đo phát thải hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) bằng phương pháp sắc ký khí và xác định cacbon monoxit trong không khí xung quanh. Trong khi đó, lĩnh vực nước sẽ bổ sung phương pháp xác định chỉ số phenol bằng kỹ thuật phân tích dòng chảy, xác định tổng nitơ thông qua vô cơ hóa persulfate kết hợp đo phổ hấp thụ tử ngoại và xác định hàm lượng nitrat bằng phương pháp khử cadmi.
Đáng chú ý, việc đánh giá độ không đảm bảo đo dựa trên kết quả xác nhận giá trị sử dụng và dữ liệu kiểm soát chất lượng cũng được đưa vào nội dung tiêu chuẩn. Đây là yếu tố cần thiết nhằm xác định mức độ tin cậy của phép đo, giúp kết quả phân tích có cơ sở khoa học rõ ràng hơn khi được sử dụng trong thực tiễn quản lý.
Với nhóm bùn và các nền mẫu môi trường rắn, ba phương pháp dự kiến được chuẩn hóa gồm xác định hàm lượng cặn khô hoặc nước, tính toán phần vật chất khô theo khối lượng; xác định thành phần nguyên tố bằng phổ huỳnh quang tia X và phân tích các nguyên tố trong bùn thải bằng phương pháp phổ phát xạ plasma cảm ứng cao tần.
Không chỉ phục vụ hoạt động quan trắc thường xuyên, chất lượng phương pháp lấy mẫu và phân tích còn có ý nghĩa đặc biệt đối với giám định tư pháp trong lĩnh vực môi trường. Đây là hoạt động đòi hỏi kết quả chuyên môn phải có khả năng phản ánh đúng hiện trạng, đồng thời đủ căn cứ để phục vụ quá trình xác minh, giải quyết các vụ việc.
Ông Nguyễn Xuân Hải, Phó Cục trưởng Cục Môi trường cho biết, giám định tư pháp trong lĩnh vực môi trường cung cấp căn cứ chuyên môn, khoa học phục vụ giải quyết các vụ việc. Theo ông, mỗi kết quả phân tích phải phản ánh trung thực mẫu được lấy, được kiểm soát chất lượng và có đầy đủ hồ sơ để kiểm tra, đối chiếu, truy xuất.
Từ yêu cầu này, chất lượng giám định không thể chỉ được đánh giá thông qua kết quả cuối cùng mà phải được bảo đảm trong toàn bộ quá trình thực hiện. Những sai sót ở khâu lấy mẫu, bảo quản hoặc xử lý số liệu đều có thể làm thay đổi cách nhìn nhận về bản chất vụ việc, thậm chí ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan.
Ông Nguyễn Xuân Hải nhấn mạnh, việc kiểm soát chất lượng cần được triển khai xuyên suốt, bắt đầu từ xây dựng kế hoạch, quan trắc tại hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm cho đến sử dụng kết quả để ban hành kết luận. Trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân tham gia phải được thể hiện cụ thể trong hồ sơ, bảo đảm có thể xác định và kiểm tra khi cần thiết.
Một trong những yêu cầu quan trọng là tính đại diện của mẫu. Mẫu được thu thập phải phù hợp với đối tượng, thời điểm và phạm vi cần đánh giá. Việc lựa chọn phương pháp phân tích, kiểm soát chất lượng và lưu giữ dữ liệu gốc cũng phải được thực hiện đồng bộ. Đặc biệt, kết luận giám định cần xác định rõ giới hạn sử dụng của kết quả, không đưa ra những nhận định vượt quá khả năng chứng minh của dữ liệu thu thập được.
Ở góc độ thực hiện nghiệp vụ, ông Hà Thanh Liêm, Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc cho rằng, độ tin cậy của kết quả giám định được hình thành từ toàn bộ chuỗi công việc, đi kèm hệ thống hồ sơ minh chứng. Khi tiếp nhận yêu cầu trưng cầu, đơn vị cần nghiên cứu tài liệu, xác định rõ nội dung, phạm vi và điều kiện chuyên môn trước khi xây dựng phương án thực hiện.
Tại hiện trường, việc kiểm tra phải gắn với thực tế hoạt động của cơ sở, thay vì chỉ dựa trên thông tin trong hồ sơ. Đoàn giám định cần đối chiếu nguồn thải, ghi nhận tình trạng vận hành, thời điểm xả thải và các điều kiện lấy mẫu. Nếu xuất hiện khác biệt so với phương án ban đầu, đơn vị phải lập biên bản, trao đổi theo đúng thẩm quyền trước khi điều chỉnh. Những bất thường liên quan đến mẫu, niêm phong hay điều kiện bảo quản cũng cần được đánh giá và lưu lại đầy đủ căn cứ giải trình.
Trong phòng thí nghiệm, yêu cầu kiểm soát tiếp tục được đặt ra đối với từng công đoạn phân tích. Trường hợp mẫu kiểm soát chất lượng hoặc dữ liệu không đáp ứng yêu cầu, đơn vị không được tự ý phát hành kết quả bị ảnh hưởng. Quá trình xác định nguyên nhân, khắc phục và xác nhận lại kết quả phải có hồ sơ chứng minh. Mỗi số liệu được công bố cần truy xuất được về mẫu, thiết bị và toàn bộ quá trình phân tích liên quan.
Những bất cập từ thực tiễn đặt ra yêu cầu siết chặt kiểm soát
Thực tế triển khai giám định cho thấy, dù quy trình chuyên môn đã được xây dựng, các đơn vị vẫn gặp không ít trở ngại khi hiện trạng môi trường thay đổi theo thời gian, mẫu vật không còn bảo đảm điều kiện hoặc dữ liệu nền chưa đầy đủ.

Theo ông Nguyễn Đức Thành, Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc, trong giai đoạn 2023-2026, Trung tâm đã thực hiện nhiệm vụ theo 26 quyết định trưng cầu giám định, với nhiều đối tượng khác nhau như nước thải, khí thải, chất thải công nghiệp và môi trường đất.
Một trong những khó khăn đáng kể là sự chênh lệch giữa hiện trạng tại thời điểm giám định và thời điểm xảy ra hành vi được xem xét. Điều này thể hiện rõ trong vụ việc liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến quặng đất hiếm tại Yên Bái và các cơ sở liên quan. Phạm vi giám định trải rộng trên 7 địa điểm thuộc 5 địa phương theo hồ sơ, trong khi một số cơ sở đã ngừng hoạt động và bị niêm phong. Do đó, việc lấy mẫu nước thải, khí thải trực tiếp không thể thực hiện.
Bên cạnh đó, sự thay đổi của điều kiện môi trường, thiếu số liệu nền và tài liệu xác định nguồn gốc vật chất cũng khiến quá trình đánh giá tác động gặp nhiều hạn chế. Để giải quyết, đơn vị giám định đã thống nhất với cơ quan điều tra về việc lấy mẫu chất thải phục vụ phân định, đồng thời thu thập mẫu môi trường xung quanh để đối chiếu với quy chuẩn. Đơn vị cũng đề nghị bổ sung thông tin về quy trình sản xuất, nguyên liệu đầu vào và nguồn phát sinh chất thải nhằm hoàn thiện căn cứ chuyên môn.
Một trường hợp khác tại Bắc Giang cho thấy rủi ro khi mẫu được lưu giữ trong thời gian dài. Bốn chai mẫu nước thải đã được bảo quản hơn 5 tháng trước khi đưa vào xem xét giám định. Sau khi đánh giá hồ sơ và tình trạng thực tế, các bên xác định mẫu không còn đáp ứng điều kiện cần thiết, thống nhất lập biên bản bàn giao lại. Đơn vị sau đó tiến hành lấy mẫu trực tiếp tại cửa xả để thực hiện phần nội dung còn đủ điều kiện. Tuy nhiên, kết quả thu được từ đợt lấy mẫu mới chỉ phản ánh tình trạng tại thời điểm lấy mẫu, không thể thay thế những căn cứ liên quan đến nhóm mẫu đã thu thập trước đó.
Tại một trạm xử lý nước thải sinh hoạt ở Hà Nội, vấn đề lại nằm ở phương pháp xác định lưu lượng. Số liệu đo tại hiện trường chỉ phản ánh thời điểm quan trắc, chưa đủ cơ sở để tính toán tổng lượng nước thải trong ngày do hệ thống vận hành theo hình thức xả từng mẻ. Muốn xác định chính xác lượng thải theo ngày hoặc theo kỳ, cần bổ sung thông tin về thời gian bơm, số lượng mẻ và chu kỳ xả.
Từ những tình huống trên, ông Nguyễn Đức Thành cho rằng kết luận giám định phải gắn chặt với vị trí, thời điểm và phạm vi đại diện của mẫu, đồng thời phân định rõ nội dung đã xác định được và những vấn đề chưa đủ cơ sở kết luận.
Ông Nguyễn Xuân Hải cũng đề nghị các đơn vị tập trung nhận diện vướng mắc trong từng khâu, làm rõ nguyên nhân và hướng khắc phục, đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan trưng cầu và tổ chức giám định.