
Nghề từng mang lại thu nhập chính
Thôn Nam Long (xã Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) từ lâu vốn nổi tiếng với nghề đan lát gọi là làng Đan Chế. Người dân nơi đây từ bao đời đã gắn bó với những chiếc thúng, cái mủng, chiếc dần, cái sàng, mẹt, rổ, rá… Những vật dụng tưởng chừng bình dị ấy lại chứa đựng biết bao công phu, tỉ mẩn và tâm huyết của người làm nghề.
Ngay nay, dù cuộc sống hiện đại với sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những vật dụng trong gia đình được thay thế bằng đồ nhựa hay vật liệu hiện đại khác. Nhưng dù ít hay nhiều, trong mỗi nếp nhà vẫn còn có sự hiện diện của những chiếc rổ, thúng, dần, sàng, rổ, nơm… Trong tiềm thức của những người đan lát tại đây vẫn nằm lòng câu thơ:
Đất Đan Chế có nghề đan
Dân bấn túng cơ hàn có nghề đan chế
Với người làm nghề cũng như người dân nơi đây, không ai nhớ rõ nghề đan lát ở thôn Nam Long có từ bao giờ, chỉ biết rằng nghề này đã có từ lâu đời và gắn bó với nhiều thế hệ người dân nơi đây.
Trước đây, nghề đan là nghề chính của người dân địa phương, những chiếc thúng, chiếc mẹt… giúp người dân nơi đây có nguồn thu nhập, trang trải cuộc sống gia đình. Ngày nay, dù không còn nhộn nhịp như trước, nhưng nhiều người dân nơi đây vẫn duy trì và giữ nghề.

Bà Nguyễn Thị Minh Châu (80 tuổi, thôn Nam Long, xã Thạch Hà) là người đã gắn bó với nghề đan lát suốt 65 năm qua. Bà vẫn nhớ như in những ngày đầu được mẹ và bà ngoại cầm tay chỉ việc dạy cho nghề đan lát.
Bà Châu chia sẻ: "Tôi học nghề này từ năm 14 tuổi. Khi đó, mẹ và bà ngoại thường đan lát mỗi ngày nên tôi được hướng dẫn từng công đoạn, từ chẻ tre, vót nan đến lận rồi nức (cố định) vành hoàn thiện sản phẩm. Ngày đó, người người, nhà nhà đan lát mọi lúc mọi nơi. Nghề đan lát đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi. Đến nay, dù không bận rộn, nhộn nhịp như trước đây nhưng mỗi ngày được ngồi đan từng nan tre, tôi thấy vui vì được sống lại với những ký ức nhộn nhịp, hưng thịnh một thời của nghề đan lát trên mảnh đất quê hương".
Theo những người làm nghề, để hoàn thành một sản phẩm đan lát phải trải qua nhiều công đoạn như lựa chọn nguyên liệu, chẻ tre, vót nan... rồi mới tiến hành đan hoàn thiện.

Để tạo nên một sản phẩm đẹp và bền, người thợ phải chọn những cây tre đủ độ già, khi đan các nan tre đều tay, các mối đan chắc, khít và cân đối. Tùy từng loại sản phẩm như thúng, mủng, dần hay rổ… mà người đan phải điều chỉnh độ dày, độ thưa của nan và cách tạo hình cho phù hợp. Chỉ cần một vài nan bị lệch hoặc không đều, sản phẩm có thể mất đi tính thẩm mỹ, độ chắc chắn và tuổi thọ sử dụng.
Ông Nguyễn Hữu Quang (thôn Nam Long) chia sẻ: "Để làm ra một sản phẩm đan lát đẹp và bền, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Tre, sợi mây... phải được lựa chọn kỹ, đủ độ già, chẻ đều và xử lý cẩn thận trước khi đưa vào đan. Vì vậy, dù những chiếc thúng, mủng hay rổ rá nhìn khá đơn giản, nhưng mỗi sản phẩm đều là kết quả của sự tỉ mỉ, khéo léo và nhiều công sức của người thợ".

Trước đây, nghề đan lát phát triển mạnh, mang về nguồn thu nhập khá cho người dân. Tuy nhiên, trước những thay đổi của đời sống và thị trường, nhiều vật liệu tiện lợi được thay thế thì số hộ gắn bó với nghề đã giảm dần theo thời gian. Hiện nay, toàn thôn chỉ còn khoảng 40 hộ duy trì nghề.
Vừa thoăn thoắt đan những lạt tre, bà Lê Thị Thủy vừa chia sẻ: "Tôi cũng đã có 40 năm làm nghề đan lát rồi. Ngày xưa, người thì đông, ruộng nương ít, lúa gạo làm ra không đủ ăn nên người dân đan lát bán để lấy tiền mua lương thực, cho con cái ăn học. Trong quá trình đan lát, công đoạn uốn vành, lên hình, “lận”, “nức”… là khó nhất, đòi hỏi người làm phải có bí quyết, kinh nghiệm, đôi tay khỏe và cả sự khéo léo. Ngày đó, những đứa trẻ lớn lên đều biết đan lát, nhưng lớp trẻ như con cháu chúng tôi thì lại không làm nghề này nữa".

Sản phẩm sau khi làm xong được người dân dùng rơm đốt hong qua để tạo độ bền, đẹp cho sản phẩm.
Cũng theo bà Châu, ngày xưa, mỗi khi mùa màng xong xuôi, cả làng lại bước vào vụ đan. Tiếng chẻ tre, tiếng vót nan, tiếng đan lát lách cách vang khắp ngõ xóm như một bản nhạc đồng quê vui tai và thân thuộc. Chợ làng Đan Chế cũng đặc biệt như chính con người nơi đây. Mới tờ mờ sáng, khoảng bốn giờ, chợ đồ nan đã tấp nập người mua kẻ bán. Những chiếc thúng, chiếc mủng theo chân thương lái đi khắp mọi miền. Rồi người dân lại ghé chợ Trẻn mua ít cá đồng, bó rau, cân gạo cho bữa cơm gia đình. Nhịp sống bình dị ấy đã nuôi lớn biết bao ký ức đẹp của một thời lam lũ mà yên vui.
Người làng đan không gọi mình là nghệ nhân, nhưng nhìn cách họ nâng niu từng nan tre, chăm chút từng đường buộc mới hiểu rằng họ chính là những nghệ sĩ của làng quê. Và những sản phẩm mộc mạc kia chính là những tác phẩm nghệ thuật được tạo nên từ sự cần cù và tình yêu lao động.
Giữ nghề truyền thống

Những người có tuổi nơi đây luôn trăn trở để vừa tìm được đầu ra có sản phẩm vừa để nghề truyền thống được thế hệ trẻ tiếp tục gìn giữ và nối tiếp.
Theo nhiều người dân địa phương, hiện nay, các sản phẩm như rổ, thúng, mủng, dần, sàng... được bán với giá từ vài chục nghìn đến hơn 100 nghìn đồng mỗi sản phẩm, tùy kích thước và độ công phu. Dù giá trị kinh tế không lớn, nhưng đây vẫn là nguồn sinh kế giúp nhiều hộ dân có thêm thu nhập và duy trì nghề truyền thống.
Ngày nay, dù thu nhập từ nghề đan không cao nhưng những người cao tuổi nơi đây vẫn muốn lưu giữ lại nghề truyền thống của cha ông. Họ muốn giữ lại những điều đẹp nhất của Đan Chế, đó là nét đẹp và sự yêu lao động của một làng quê thuần hậu. Cứ mỗi buổi chiều, các ông các bà, các chị, các mẹ thường tụm năm tụm ba dưới mái hiên rộng, dưới gốc cây râm mát để cùng nhau đan lát, xướng lên những khúc dân ca ví dặm. Tay làm mà miệng vẫn rôm rả chuyện trò, ngân lên những điệu ví quê hương. Hay những câu chuyện mùa màng, chuyện con cái, chuyện cưới xin, chuyện làng trên xóm dưới… cứ thế nối dài trong tiếng cười giòn tan.

Thời gian trôi đi, cuộc sống hiện đại dần làm nghề đan lát ngày càng mai một. Những con đường nhựa đã trải dài đến từng ngõ xóm, nhà tầng mọc lên san sát, nhiều gia đình có xe ô tô, con cháu đi học, đi làm khắp nơi. Những lũy tre làng cũng dần vắng bóng nên nguồn nguyên liệu cũng ngày càng khan hiếm hơn. Người dân giờ đây cũng có thêm nhiều nghề nghiệp mới để mưu sinh. Nghề đan không còn rộn ràng như trước, số hộ còn giữ nghề cũng ngày càng giảm.
Những cụ cao niên trong làng vẫn kiên trì duy trì nghề đan với mong muốn, hi vọng nghề này vẫn được giữ, vẫn sống trong cuộc sống hiện đại và trường tồn cùng thời gian. Dưới mái hiên nhà của những ngôi nhà nơi đây vẫn còn tồn tại những người ông, người bà ngồi đan lát. Trong không gian vẫn văng vẳng tiếng lách cách chẻ tre, gõ tre để hoàn thiện những chiếc rổ, rá, múng, mẹt….