
Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong 6 tháng đầu năm 2026 khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 6, quy mô thương mại đạt 104,22 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng tới 36,3% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy đà tăng trưởng vẫn được duy trì ổn định.
Đáng chú ý, tốc độ tăng của nhập khẩu cao hơn xuất khẩu đã khiến cán cân thương mại chuyển từ trạng thái xuất siêu sang nhập siêu. Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4%, trong khi xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%. Theo đó, nền kinh tế ghi nhận nhập siêu 16,65 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 7,95 tỷ USD của cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diễn biến này được đánh giá phản ánh nhu cầu gia tăng đối với máy móc, thiết bị và nguyên liệu đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt tại khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong tháng 6, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 50,79 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước. Khu vực kinh tế trong nước đóng góp 10,01 tỷ USD, còn khu vực FDI đạt 40,78 tỷ USD. Tính chung 6 tháng, doanh nghiệp FDI tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi tạo ra 213,01 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, chiếm gần 80% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước và tăng 26% so với cùng kỳ. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%.
Cơ cấu hàng xuất khẩu tiếp tục nghiêng mạnh về nhóm công nghiệp chế biến với kim ngạch 239,8 tỷ USD, tương đương 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Các mặt hàng nông, lâm sản đạt 19,23 tỷ USD; thủy sản đạt 5,76 tỷ USD, còn nhiên liệu và khoáng sản đạt 1,73 tỷ USD. Toàn ngành có 29 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó 5 mặt hàng vượt mốc 10 tỷ USD. Dẫn đầu là nhóm điện tử, máy tính và linh kiện với 71,16 tỷ USD, tăng 49,1%; tiếp đến là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 33,24 tỷ USD và điện thoại cùng linh kiện đạt 31,69 tỷ USD. Hai ngành dệt may và giày dép vẫn duy trì quy mô lớn nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ ở mức khiêm tốn.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu trong tháng 6 đạt 53,43 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 45,2% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng, khu vực FDI nhập khẩu 204,71 tỷ USD, tăng 37,3%, trong khi khu vực kinh tế trong nước đạt 78,46 tỷ USD, tăng 24,3%. Có 38 nhóm hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, nổi bật là điện tử, máy tính và linh kiện với hơn 110 tỷ USD, tăng 62%; máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 34,36 tỷ USD, tăng 22,9%.
Cơ cấu nhập khẩu tiếp tục cho thấy phần lớn dòng vốn được dành cho hoạt động sản xuất khi nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, tương đương 266,4 tỷ USD. Trong đó, máy móc, thiết bị và phụ tùng chiếm 56%, còn nguyên, nhiên vật liệu chiếm 38,1%. Hàng tiêu dùng chỉ chiếm tỷ trọng 5,9%, đạt 16,77 tỷ USD.
Xét theo thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục giữ vị trí là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 86,5 tỷ USD, trong khi Trung Quốc vẫn là nguồn nhập khẩu lớn nhất với 115,2 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu 75,3 tỷ USD sang Hoa Kỳ và 21,9 tỷ USD sang EU, nhưng nhập siêu 77,3 tỷ USD từ Trung Quốc, 26,4 tỷ USD từ Hàn Quốc và 10,1 tỷ USD từ ASEAN.
Không chỉ thương mại hàng hóa, lĩnh vực dịch vụ cũng duy trì xu hướng tăng trưởng. Trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu dịch vụ đạt 17,42 tỷ USD, tăng 20,5%, chủ yếu nhờ du lịch và vận tải. Trong khi đó, nhập khẩu dịch vụ đạt 22,96 tỷ USD, tăng 19,4%, khiến nhập siêu dịch vụ ở mức 5,54 tỷ USD.
Nhìn chung, việc nhập khẩu tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026 không chỉ làm thay đổi cán cân thương mại mà còn phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất và đầu tư của doanh nghiệp. Sự gia tăng của các nhóm hàng phục vụ sản xuất được xem là tín hiệu tích cực, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong những quý tiếp theo.