
Sức ép từ cầu nội địa, doanh nghiệp và thương mại bắt đầu hiện rõ
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận kết quả tích cực khi nhiều động lực quan trọng cùng phục hồi. Tuy nhiên, phía sau những con số khả quan vẫn là không ít áp lực từ sức cầu trong nước, sức khỏe doanh nghiệp, thương mại quốc tế và yêu cầu tăng trưởng rất cao trong nửa cuối năm để hoàn thành mục tiêu cả năm.
Theo số liệu Cục Thống kê công bố, GDP quý II/2026 tăng 8,39%, đưa tốc độ tăng trưởng của 6 tháng đầu năm lên 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn đối mặt nhiều biến động và bất ổn, đây được đánh giá là mức tăng trưởng tích cực, phản ánh sự phục hồi tương đối đồng đều của các khu vực trong nền kinh tế.
Ở phía cung, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò đầu tàu với mức tăng 10,23%, đóng góp hơn 33% vào mức tăng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Sự mở rộng sản xuất nhờ đơn hàng xuất khẩu cải thiện, dòng vốn FDI và hiệu quả lan tỏa từ đầu tư công đã tạo lực đẩy cho khu vực này. Cùng với đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, tiếp tục giữ vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, trong khi khu vực dịch vụ tăng 8,09% nhờ tiêu dùng và du lịch phục hồi.
Ở phía cầu, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình tăng 9,48%, phản ánh sức mua đã cải thiện. Hoạt động đầu tư cũng khởi sắc khi tích lũy tài sản tăng 15,2%, cho thấy niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư được củng cố cùng với tiến độ giải ngân đầu tư công tích cực hơn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1%, tiếp tục tạo nền tảng cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu.
Dù bức tranh tăng trưởng có nhiều gam màu sáng, Cục Thống kê cho rằng nền kinh tế vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn cần sớm được xử lý. Một trong những vấn đề đáng chú ý là sức cầu trong nước chưa thực sự bền vững. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng chỉ còn 7,3%, thấp hơn cùng kỳ năm trước. Thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 9 triệu đồng/tháng, tăng 8,7%, song mức tăng thực sau khi loại trừ lạm phát chỉ vào khoảng 3%.
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh - Trưởng Ban Hệ thống tài khoản quốc gia (Cục Thống kê) cảnh báo: "Nếu sức mua nội địa tiếp tục yếu sẽ tạo thành một vòng lặp đi xuống: doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng, thu hẹp quy mô, cắt giảm lao động, dẫn tới tổng cầu tiếp tục giảm". Sức khỏe của khu vực doanh nghiệp cũng là vấn đề đáng quan tâm khi trong 6 tháng đầu năm có tới 151,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 18,8% so với cùng kỳ.
Bên cạnh đó, cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu 16,65 tỷ USD. Theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện để mở rộng sản xuất phản ánh kỳ vọng đầu tư tích cực, nhưng "nhập siêu lớn mà không nhanh chóng đi vào sản xuất sẽ tạo ra ứ đọng vốn, làm giảm vòng quay vốn trong nền kinh tế". Ngoài ra, khu vực FDI vẫn chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc khá lớn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Địa phương tăng tốc mạnh, nhưng mục tiêu tăng trưởng 10% vẫn là bài toán khó
Không chỉ kinh tế cả nước ghi nhận đà phục hồi, bức tranh tăng trưởng GRDP của 34 tỉnh, thành phố cũng cho thấy tín hiệu tích cực khi tất cả địa phương đều tăng trưởng dương trong nửa đầu năm 2026. Đáng chú ý, số địa phương đạt mức tăng trưởng hai con số đã tăng từ 4 lên 9 so với quý I.
Hà Tĩnh tiếp tục dẫn đầu cả nước với GRDP tăng 12,79%, chủ yếu nhờ khu vực công nghiệp tăng tới 28,34% khi nhiều dự án năng lượng và sản xuất phương tiện vận tải quy mô lớn chính thức vận hành thương mại. Theo sau là Ninh Bình (11,44%), Hải Phòng (11,33%), Quảng Ninh (11,11%), Hưng Yên (10,72%), Bắc Ninh (10,56%), Phú Thọ (10,18%), Tây Ninh (10,12%) và Thái Nguyên (10,01%).
Nhóm địa phương này đều có điểm chung là công nghiệp và xây dựng tiếp tục đóng vai trò động lực chính, đồng thời hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng, dòng vốn đầu tư và hạ tầng được cải thiện. Riêng Quảng Ninh còn ghi nhận khu vực dịch vụ tăng 14,27%, góp phần tạo nên cơ cấu tăng trưởng cân bằng hơn.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương vẫn tăng trưởng khiêm tốn như Sơn La, Vĩnh Long, Cà Mau và Cần Thơ. Sơn La giảm tốc do sản lượng thủy điện suy giảm trong mùa khô khiến khu vực công nghiệp giảm 7,11%, trong khi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục chịu áp lực từ chi phí logistics và hạn chế trong mở rộng năng lực sản xuất. Theo tính toán của Cục Thống kê, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% của cả năm 2026, GDP quý III cần tăng 11,16% và quý IV phải đạt 12,09% - mức tăng rất cao trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều bất định.
Bên cạnh áp lực từ xu hướng bảo hộ thương mại, chi phí vận tải biển, rủi ro địa chính trị và lạm phát nhập khẩu, trong nước vẫn còn những nút thắt liên quan đến giải ngân đầu tư công, thị trường bất động sản và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Cục Thống kê nhận định, các nghị quyết của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ đang tập trung vào việc huy động nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư công, tiêu dùng, xuất khẩu, đồng thời phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Tuy nhiên, khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng còn phụ thuộc lớn vào hiệu quả triển khai chính sách, khả năng kiểm soát rủi ro cũng như sức chống chịu của cộng đồng doanh nghiệp trong những tháng cuối năm.