
Bức tranh kinh tế Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi đà phục hồi tiếp tục được củng cố trên hầu hết các lĩnh vực. Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội do Cục Thống kê công bố ngày 3/7, GDP quý II ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng GDP của cả sáu tháng đầu năm lên 8,18%, vượt đáng kể mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, kết quả trên phản ánh hiệu quả của các giải pháp điều hành kinh tế, đồng thời cho thấy khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều biến động.
Trong cơ cấu đóng góp vào tăng trưởng, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ vai trò nổi bật khi tăng 9,81%, đóng góp 47,20% vào mức tăng chung của nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%.
Đi sâu vào từng lĩnh vực, bà Nguyễn Thị Hương cho biết công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp trong sáu tháng đầu năm tăng 9,86%, đóng góp tới 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mức tăng 10,23%. Theo bà Nguyễn Thị Hương, kết quả này phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong việc củng cố chuỗi cung ứng, đồng thời tận dụng hiệu quả sự phục hồi của thị trường xuất khẩu. Cùng với đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,34%; khai khoáng tăng 6,67%; cung cấp nước và xử lý chất thải tăng 7,72%.

Về cơ cấu nền kinh tế, dịch vụ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 43,52%; công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,61%, phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại.
Các chỉ tiêu sử dụng GDP cũng ghi nhận nhiều điểm sáng khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; tích lũy tài sản tăng 15,2%; tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15%, cho thấy niềm tin của doanh nghiệp và người dân đối với triển vọng tăng trưởng vẫn được duy trì.

Song hành với bức tranh tăng trưởng chung, lĩnh vực công nghiệp đang được tiếp sức bởi nhiều yếu tố thuận lợi. Theo bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), ngành công nghiệp trong sáu tháng đầu năm được thúc đẩy bởi ba động lực chính.
Động lực đầu tiên đến từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục chảy mạnh vào lĩnh vực sản xuất. Bà Nga cho biết nhiều dự án, đặc biệt trong ngành điện tử, đã hoàn tất giai đoạn chạy thử và bước vào sản xuất quy mô lớn. "Điều này đã tạo thêm năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp trong sáu tháng đầu năm và sẽ tiếp tục tạo dư địa tăng trưởng cho những tháng cuối năm", bà Nga cho biết.

Bên cạnh nguồn vốn FDI, sự cải thiện của đơn hàng quốc tế cũng tạo lực kéo quan trọng đối với sản xuất công nghiệp. Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của Cục Thống kê, hơn 80% doanh nghiệp đánh giá đơn hàng xuất khẩu trong quý II tăng hoặc giữ ổn định so với quý I.
Theo bà Nga, các doanh nghiệp điện tử và máy vi tính tại Việt Nam đã chủ động mở rộng sản xuất ngay trong quý II để chuẩn bị cho chu kỳ sản phẩm mới sẽ được tung ra trong quý III. Ngoài ra, các ngành xuất khẩu truyền thống như dệt may và da giày vẫn duy trì lượng đơn hàng khả quan, góp phần duy trì nhịp tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp.
Yếu tố thứ ba được đánh giá có tác động lan tỏa mạnh là đầu tư công. Theo bà Phí Thị Hương Nga, việc Chính phủ cùng các bộ, ngành và địa phương quyết liệt tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư công đã tạo thêm nhu cầu cho lĩnh vực xây dựng cũng như ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Nhờ đó, các ngành sản xuất thép, xi măng và bê tông tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong sáu tháng đầu năm, góp phần bảo đảm đầu ra ổn định cho nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu.
Dù triển vọng tăng trưởng được đánh giá tích cực, doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với nhiều sức ép từ bên ngoài. Theo bà Nga, diễn biến địa chính trị phức tạp cùng các cuộc xung đột trên thế giới đã tác động đến an ninh năng lượng, khiến chi phí logistics và vận tải quốc tế tiếp tục tăng, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất.

Kết quả khảo sát của Cục Thống kê cho thấy 94,6% doanh nghiệp được hỏi cho biết chi phí sản xuất vẫn tăng hoặc duy trì ở mức cao. Điều này làm thu hẹp biên lợi nhuận và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo bà Phí Thị Hương Nga, khoảng 47% doanh nghiệp mong muốn cơ quan quản lý tiếp tục có các giải pháp ổn định nguồn cung nguyên, nhiên liệu và năng lượng, đồng thời duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý để doanh nghiệp thuận lợi tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Ở góc độ vĩ mô, bà Nguyễn Thị Hương nhận định kinh tế thế giới trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn đối mặt với nhiều yếu tố bất định khi xung đột tại Trung Đông kéo dài, chuỗi cung ứng chịu sức ép, giá năng lượng và chi phí vận tải tăng, trong khi nhiều tổ chức quốc tế đồng loạt hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu. Tuy vậy, các tổ chức quốc tế vẫn đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng tích cực nhất khu vực Đông Nam Á với dự báo tăng trưởng từ 6,5% đến 7,2%, cao hơn nhiều nền kinh tế trong khu vực.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, kết quả đạt được đến từ việc Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ kiên trì triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế. Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng cải cách thủ tục hành chính đã mở ra không gian phát triển mới, nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực và tăng cường liên kết vùng.
Bà Hương nhận định việc chủ động thích ứng với xu hướng kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi xanh sẽ tiếp tục tạo nền tảng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm và các năm tiếp theo.
Trần Huyền (t/h)