
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính nhấn mạnh, yêu cầu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đi vào thực chất, thay vì tiếp tục dừng ở việc hoàn thiện chủ trương. Bộ đang khẩn trương xây dựng Đề án đặc thù phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vùng ĐBSCL, tập trung vào ba nhóm gồm nhiệm vụ ưu tiên, cấp bách; các giải pháp mang tính đột phá và định hướng chiến lược dài hạn. Thứ trưởng cho biết tinh thần triển khai là phải bắt tay vào làm ngay, với yêu cầu Đề án được phê duyệt chậm nhất ngày 15/11 và tạo chuyển biến rõ nét trong khoảng 3 năm tới.

Ở góc độ địa phương, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ -Nguyễn Văn Khởi đề xuất tập trung vào ba hướng: phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh và thích ứng biến đổi khí hậu; đẩy mạnh chuyển đổi số, đô thị thông minh và kết nối liên vùng; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, Cần Thơ mong muốn được hỗ trợ phát triển các trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hạ tầng dữ liệu và số hóa các lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường, giao thông, y tế, giáo dục, đồng thời tăng cường liên kết đại học - doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Một trong những vấn đề được đặt ra là ĐBSCL không thể duy trì mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng sản lượng. Lợi thế về lúa gạo, thủy sản, trái cây và tài nguyên sinh học cần được chuyển hóa thành giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu, công nghệ sinh học, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, logistics, xây dựng thương hiệu và khai thác hiệu quả phụ phẩm. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải trở thành chủ thể tiếp nhận và ứng dụng công nghệ, trong khi viện, trường cần tăng khả năng cung cấp các giải pháp có thể triển khai ở quy mô sản xuất.
Các ý kiến tại hội thảo cũng cho thấy bài toán phát triển của vùng ngày càng gắn với dữ liệu và năng lực dự báo. Những vấn đề như nguồn nước, xâm nhập mặn, sụt lún, sạt lở, biến đổi khí hậu hay quản lý không gian sản xuất có tính liên tỉnh, liên ngành, không thể giải quyết hiệu quả nếu dữ liệu còn phân tán. Vì vậy, việc hình thành hệ thống dữ liệu và nền tảng số dùng chung, kết hợp viễn thám, trí tuệ nhân tạo, mô hình số, công nghệ quan trắc và các công cụ hỗ trợ ra quyết định được xem là hướng quan trọng để nâng cao năng lực quản trị vùng.
Từ những trao đổi tại hội thảo, yêu cầu đặt ra không chỉ là lựa chọn công nghệ nào mà còn là cách tổ chức nguồn lực để công nghệ tạo ra tác động thực tế. Liên kết giữa Trung ương và địa phương, giữa các tỉnh trong vùng, giữa viện - trường và doanh nghiệp cần được cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án và cơ chế sử dụng chung hạ tầng, dữ liệu, phòng thí nghiệm và nguồn nhân lực. Đây cũng là cơ sở để Đề án đặc thù tránh dàn trải, tập trung vào những vấn đề có khả năng tạo tác động lớn và có thể triển khai trong thực tế.

Với việc Đề án đặc thù đang được xây dựng theo hướng xác định rõ các nhiệm vụ cấp bách, giải pháp đột phá và định hướng dài hạn, hội thảo được kỳ vọng sẽ góp thêm những đề xuất có tính thực tiễn để hình thành một chương trình hành động phù hợp với đặc thù ĐBSCL. Nếu kết nối được tiềm năng nông nghiệp, kinh tế biển, tài nguyên sinh học với công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo, vùng có thể mở rộng những động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng và sức cạnh tranh trong giai đoạn phát triển tiếp theo.