
Nhận diện nguồn phát thải, tháo gỡ những điểm nghẽn trong kiểm soát ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường, đặc biệt là chất lượng không khí, đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với quá trình phát triển đô thị của Hà Nội. Trong bối cảnh các nguồn phát thải có phạm vi tác động vượt ra ngoài ranh giới hành chính, việc kiểm soát ô nhiễm không thể chỉ dựa vào những giải pháp riêng lẻ mà đòi hỏi cơ chế phối hợp đồng bộ giữa Trung ương, chính quyền thành phố và các địa phương lân cận.
Sau khi ban hành Kế hoạch 400/KH-UBND về tăng cường các biện pháp kiểm soát, ứng phó ô nhiễm không khí, lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội cùng đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có buổi làm việc nhằm trao đổi, thống nhất những giải pháp tháo gỡ các vướng mắc trong công tác bảo vệ môi trường. Đây được xem là bước tiếp nối những nỗ lực hoàn thiện hành lang pháp lý và tăng cường phối hợp quản lý môi trường trên địa bàn Thủ đô.
Trước đó, ngày 8/4/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Văn bản số 3413/BNNMT-MT đề nghị rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật về môi trường. Trên cơ sở này, Hà Nội từng bước cụ thể hóa các yêu cầu quản lý thông qua Luật Thủ đô năm 2026, trong đó Điều 30 đề cập đến những quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn và cơ chế phối hợp môi trường vùng Thủ đô.
Đáng chú ý, Quyết định số 1804/QĐ-UBND ngày 9/4/2026 đã xác lập chương trình hành động xử lý ô nhiễm môi trường giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Các nhiệm vụ được tổ chức theo ba nhóm trọng tâm gồm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước và chất thải rắn, với yêu cầu phân định cụ thể trách nhiệm, tiến độ và kết quả thực hiện theo phương châm “6 rõ”.
Một trong những vấn đề cần ưu tiên giải quyết là xác định chính xác tỷ trọng đóng góp của từng nguồn gây ô nhiễm. Theo nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong giai đoạn 2023-2025, bụi PM2.5 tại Hà Nội chủ yếu đến từ bụi thứ cấp hình thành từ các khí ô nhiễm, chiếm 27%; giao thông vận tải chiếm 23%; hoạt động xây dựng và bụi đường chiếm 20%. Các nguồn khác gồm đốt mở chiếm 12%, công nghiệp chiếm 10% và những nguồn còn lại chiếm 8%.
Trong khi đó, kết quả kiểm kê khí thải năm 2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho thấy bụi cuốn từ đường giao thông đóng góp tới 41,5% tổng lượng PM2.5. Giao thông vận tải chiếm 35%, trong đó khí thải từ ống xả phương tiện đường bộ chiếm 34,4%. Hoạt động xây dựng đóng góp 8,8%; đốt nhiên liệu trong dân sinh và thương mại chiếm 3,7%; đốt nhiên liệu công nghiệp và xử lý chất thải rắn có kiểm soát chiếm 3,6%.
Mặc dù có sự khác biệt về tỷ trọng giữa hai kết quả đánh giá, cả hai đều cho thấy giao thông, bụi đường và hoạt động xây dựng là những nhóm nguồn cần được kiểm soát chặt chẽ. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện công tác kiểm kê, thống nhất phương pháp đánh giá và nâng cao khả năng giám sát phát thải để lựa chọn giải pháp phù hợp với từng nguồn ô nhiễm.
Hoàn thiện quản trị môi trường, hướng tới phát triển xanh và bền vững
Không chỉ tập trung xử lý các nguồn phát thải trong phạm vi thành phố, Hà Nội còn đẩy mạnh phối hợp với các địa phương trong vùng Thủ đô. Quy chế phối hợp vùng Thủ đô trong quản lý môi trường số 01/QC-PH được ban hành ngày 4/6/2026 với sự tham gia của Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên và Thái Nguyên, tạo cơ sở tăng cường trao đổi thông tin và triển khai các giải pháp liên địa phương.
Trong tháng 7/2026, Cục Môi trường đã làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, tập trung vào nâng cấp hệ thống quan trắc, tích hợp dữ liệu, dự báo chất lượng không khí; phối hợp ứng phó ô nhiễm liên tỉnh; xây dựng lộ trình áp dụng quy chuẩn khí thải đối với xe mô tô, xe máy và thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đến ngày 13/10/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tiếp tục có Văn bản số 14510/SNNMT-QLMT đề nghị Bộ và các địa phương phối hợp triển khai biện pháp cấp bách trước mùa ô nhiễm. Thành phố đồng thời lấy ý kiến hoàn thiện quy trình kích hoạt, ứng phó ô nhiễm không khí vùng Thủ đô, hướng tới thống nhất đầu mối và trách nhiệm của từng đơn vị.
Song song với đó, hệ thống dự báo chất lượng không khí HanoiAir được duy trì, thử nghiệm; các thông tin quan trắc, chỉ số AQI và khuyến cáo được công khai trên các kênh thông tin như Cổng thông tin môi trường Thủ đô, hệ thống cem.gov.vn và ứng dụng VNAIR. Mô hình dự báo do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt hàng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và biển nghiên cứu cũng hướng tới khả năng dự báo PM2.5 cùng một số chất ô nhiễm khác trong thời hạn 7 ngày.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Minh Tấn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, dữ liệu về nguồn phát thải, quan trắc và dự báo giữa Bộ, thành phố cùng các địa phương vẫn chưa được kết nối đồng bộ. Quy trình điều phối và kích hoạt biện pháp ứng phó ô nhiễm liên tỉnh cũng chưa hoàn thiện.
Do đó, Hà Nội đề nghị thống nhất đầu mối chia sẻ dữ liệu quan trắc, khí tượng và nguồn thải; đồng thời hỗ trợ dự báo, cảnh báo trước 24-48 giờ, có thể kéo dài đến 72 giờ khi bảo đảm độ tin cậy. Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện cũng đang hoàn thiện dự thảo Quy chế phối hợp và biện pháp quản lý chất lượng môi trường không khí liên vùng, liên tỉnh đối với tám tỉnh, thành phố miền Bắc.
Trợ lý Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Công Thành đề nghị các đơn vị chuyên môn của Bộ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường sớm thống nhất cơ chế làm việc, bảo đảm khi xuất hiện nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng, những thông tin dự báo được chuyển hóa kịp thời thành các quyết định quản lý và biện pháp ứng phó cụ thể.
Ở góc độ điều hành, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường nhấn mạnh, với quy mô đô thị lớn và dân số đông, áp lực môi trường của Thủ đô rất đáng kể. Thành phố đã ban hành nhiều kế hoạch, cơ chế phối hợp và giải pháp xử lý các điểm nghẽn, bước đầu ghi nhận những chuyển biến tích cực. Theo ông, các cơ chế, chính sách cơ bản đã được hoàn thiện, vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức thực hiện hiệu quả, đồng thời cần sự đồng hành của Bộ trong cả giải pháp trước mắt và lâu dài.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên đánh giá công tác phối hợp đã tạo ra những chuyển biến rõ nét, song Hà Nội vẫn phải đối mặt với bốn vấn đề lớn gồm ngập lụt, ô nhiễm không khí, chất thải rắn và ô nhiễm các dòng sông. Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với Thành phố giải quyết những thách thức này. Đối với môi trường nước, Bộ đang triển khai đánh giá sức chịu tải và xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng nước sông Hồng, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải giai đoạn 2026-2030.
Định hướng quản lý môi trường cũng được Hà Nội cụ thể hóa tại Kế hoạch số 419/KH-UBND ngày 26/10/2026, triển khai Chương trình số 21-CTr/TU của Thành ủy về thực hiện các chủ trương bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong giai đoạn mới. Theo đó, đến năm 2030, Thành phố hướng tới nâng cao năng lực quản trị môi trường, phục hồi các khu vực ô nhiễm, cải thiện chất lượng sống và ngăn chặn xu hướng suy giảm đa dạng sinh học.
Đáng chú ý, Hà Nội xác định bảo vệ môi trường phải được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch, quyết định đầu tư, phát triển hạ tầng và tổ chức không gian đô thị. Mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp được xác định là một trong ba trụ cột phát triển của Thủ đô, trong đó hạ tầng xanh, hạ tầng số đóng vai trò nền tảng.
Cùng với đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải, khắc phục ô nhiễm tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề, Thành phố sẽ tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cộng đồng trong bảo vệ môi trường.
Tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội hướng tới xây dựng môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, hệ thống quản trị hiện đại với dữ liệu thống nhất, liên thông và đô thị có khả năng chống chịu cao trước biến đổi khí hậu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, yêu cầu đặt ra không chỉ là xử lý những điểm nóng ô nhiễm hiện hữu mà còn phải chuyển từ tư duy ứng phó thụ động sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát rủi ro từ sớm, từ xa. Đây sẽ là nền tảng để Thủ đô nâng cao chất lượng môi trường sống, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.