Cây riềng trên những vùng đất mới

Ở nhiều vùng quê Thanh Hóa, cây riềng vốn chỉ được trồng trong vườn để làm gia vị. Những năm gần đây, từ những diện tích đất trồng lúa, mía, sắn kém hiệu quả, người dân chuyển sang trồng riềng. Khi diện tích ngày càng mở rộng, cây riềng dần trở thành cây hàng hóa, đem lại nguồn thu khá và tạo thêm việc làm cho người dân.
cay-rieng-1-1793024195.jpg
Từ cây gia vị quen thuộc, riềng dần trở thành cây hàng hóa ở nhiều địa phương trong tỉnh.

Từ những thửa đất hiệu quả thấp

Ở thôn Mỹ Quang, xã Thăng Bình, màu xanh của những luống riềng đã thay cho một phần diện tích trước đây trồng mía, sắn. Đây cũng là nơi một số hộ dân sớm đưa cây riềng vào trồng, rồi từ hiệu quả thực tế, nhiều gia đình làm theo.

Anh Lê Bá Bằng là một trong những người chuyển đổi như vậy. Trước đây, trên những diện tích đất dốc, gia đình anh chủ yếu trồng ngô, mía, sắn. Những cây trồng này không phải lúc nào cũng cho thu nhập ổn định, nhất là những năm thời tiết bất lợi.

Khi chuyển sang trồng riềng, anh Bằng nhận thấy cây hợp với đất địa phương, ít phải chăm sóc cầu kỳ. Trên diện tích gần 1 ha, gia đình anh phải thuê thêm người vào thời điểm làm đất, chăm sóc và thu hoạch. Mỗi vụ, khoản thu từ cây riềng cao hơn hẳn so với những cây trồng trước đây.

Cây riềng cũng có một đặc điểm phù hợp với cách làm của nông dân ở vùng này là thời gian thu hoạch khá linh hoạt. Theo những hộ trồng lâu năm, nếu thu hoạch sau khoảng 12 tháng, năng suất có thể đạt khoảng 50 tấn/ha. Để lâu hơn, khoảng 18 tháng, năng suất có thể lên 75-80 tấn/ha. Khi chưa cần bán ngay, người dân có thể để củ dưới đất thêm một thời gian.

cay-rieng-1-1793024453.jpeg
Riềng có thời gian thu hoạch linh hoạt, giúp người dân chủ động sắp xếp các công việc khác.

Từ những hộ trồng ban đầu, diện tích riềng ở Thăng Bình dần tăng lên. Ông Trần Thế Xanh, Trưởng thôn Mỹ Quang, cũng là người sớm chuyển từ cây mía sang riềng. Ông cho biết, điều quan trọng nhất là cây phải hợp đất và sản phẩm có người mua.

Tại Xuân Du, cây riềng đã được trồng từ nhiều năm và dần thay thế một phần diện tích lúa, cùng những cây trồng cho hiệu quả thấp. Theo số liệu địa phương năm 2025, toàn xã có khoảng 270 ha riềng, bình quân mỗi hecta cho thu nhập khoảng 300 triệu đồng. Cùng với cây đào, riềng hiện là một trong những cây trồng chủ lực của Xuân Du.

Theo số liệu được địa phương thông tin trong năm 2025, toàn xã Xuân Du có khoảng 270 ha riềng, bình quân 1 ha cho thu nhập khoảng 300 triệu đồng. Riềng cùng với đào được xác định là những cây trồng chủ lực của địa phương.

Ở thôn 5, gia đình chị Lưu Thị Lý có 10 sào trồng riềng. Một vụ, gia đình thu khoảng 25 tấn củ. Với giá bán dao động khoảng 9.000-11.000 đồng/kg ở thời điểm được ghi nhận, sau khi trừ chi phí, khoản lãi khoảng 200 triệu đồng. Trước đây, diện tích này chủ yếu được dùng để trồng lúa.

Từ những thửa đất trước đây chỉ cho một khoản thu vừa phải, cây riềng đang giúp nhiều hộ có thêm lựa chọn. Nhưng điều đáng chú ý hơn là khi diện tích tăng lên, người dân bắt đầu nghĩ đến chuyện sản xuất theo vùng, thay vì mỗi nhà làm một cách.

Khi cây riềng thành cây hàng hóa

Ở xã Công Chính, cây riềng đã có một quá trình dài từ trồng thử đến sản xuất với diện tích lớn. Năm 2012, ông Nguyễn Công Trứ ở thôn Phú Sơn chỉ dành một sào đất để trồng thử. Khi thấy cây sinh trưởng tốt, năng suất khá và có người tìm mua, ông bắt đầu mở rộng diện tích.

Đến nay, gia đình ông duy trì khoảng 20 ha riềng, chủ yếu trên đất thuê. Năng suất bình quân khoảng 50 tấn/ha. Giá riềng củ thay đổi theo thời điểm, chất lượng và nhu cầu thị trường, hiện dao động khoảng 6.000-12.000 đồng/kg. Với diện tích lớn, gia đình ông Trứ thường xuyên tạo việc làm cho khoảng 10-15 lao động địa phương, tùy từng thời điểm.

Những người làm thuê tham gia từ khâu trồng, chăm sóc đến thu hoạch, làm sạch củ. Như vậy, giá trị của cây riềng ở đây không chỉ nằm trên diện tích đất của từng hộ, mà còn kéo theo việc làm trong những thời điểm nông nhàn.

cay-rieng-3-1793024642.jpg
Riềng trên 1 năm tuổi khoảng 50 tấn/ha.

Từ chỗ trồng thử vài sào, ông Trứ hiện còn đảm nhận vai trò Chi hội trưởng Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng riềng theo hướng VietGAP. Với 30 hộ tham gia. Người trồng được trao đổi về giống, làm đất, chăm sóc, thoát nước và những yêu cầu trong quá trình sản xuất.

Theo ông Trứ, với cây riềng, khâu chọn giống và làm đất có ảnh hưởng lớn đến năng suất. Đất phải tơi, thoát nước tốt, nhất là trong những đợt mưa lớn. Khi sản xuất theo hướng VietGAP, người dân còn phải chú ý việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thời gian cách ly và ghi chép quá trình canh tác.

Đây là thay đổi đáng chú ý ở vùng trồng riềng Công Chính. Trước đây, mỗi hộ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của gia đình và bán sản phẩm cho thương lái. Nay một bộ phận người trồng đã bắt đầu ngồi lại với nhau để thống nhất cách làm.

Theo số liệu thống kê, hiện toàn xã Công Chính có khoảng 220 ha riềng. Theo lãnh đạo xã, cây riềng đang góp phần nâng thu nhập và tạo việc làm cho người dân. Tuy nhiên, khi diện tích mở rộng, địa phương cũng chú ý hơn đến việc tổ chức vùng trồng, kiểm soát chất lượng và tìm đầu ra.

cay-rieng-2-1793024642.jpg
Hiện toàn xã Công chính đang có khoảng 220ha riêng

Khi diện tích riềng đã lên tới hàng trăm hecta, yêu cầu về sản xuất cũng cao hơn. Người trồng phải chú ý từ khâu chọn giống, làm đất, chăm sóc đến thời điểm thu hoạch, đồng thời tính toán đầu ra cho sản phẩm.

Tại Công Chính, việc thành lập Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng riềng theo hướng VietGAP với 30 hộ tham gia là một cách để các hộ trao đổi kinh nghiệm và thống nhất quy trình sản xuất. Với diện tích lớn như hiện nay, việc liên kết trong mua giống, chăm sóc và tiêu thụ cũng thuận lợi hơn khi người dân cùng tham gia một vùng trồng.

Xuân Du, Thăng Bình và Công Chính đều có điểm chung là riềng được đưa vào những diện tích trước đây trồng lúa, mía, sắn hoặc cây màu cho hiệu quả thấp. Khi cây cho năng suất và có đầu ra, diện tích được mở rộng dần. Riềng từ một loại cây trồng trong vườn đã trở thành cây hàng hóa ở nhiều khu vực.

Riêng tại Công Chính, gia đình ông Nguyễn Công Trứ đang duy trì khoảng 20 ha, tạo việc làm cho 10-15 lao động tùy thời điểm. Cùng với đó là khoảng 30 hộ tham gia Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng riềng theo hướng VietGAP.

Diện tích lớn hơn cũng đồng nghĩa với sản lượng nhiều hơn. Vì vậy, ngoài việc giữ năng suất và chất lượng củ, các vùng trồng riềng đang phải tính đến khâu sơ chế, phân loại và tiêu thụ để sản phẩm thuận lợi hơn khi đưa ra thị trường.

Đăng ký đặt báo