Áp lực hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp sau một năm thực thi Nghị quyết 68

Dù Nghị quyết 68 đã tạo chuyển biến đáng kể trong tư duy phát triển kinh tế tư nhân, nhiều rào cản về thủ tục, điều kiện kinh doanh và chất lượng thực thi chính sách vẫn chưa được tháo gỡ triệt để. Điều này khiến mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 đối mặt không ít thách thức.
muc-tieu-2-trieu-doanh-nghiep-nam-2030-1778737575.jpg
Cần thay đổi tư duy quản lý để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp.

Sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, nhiều chuyển biến tích cực đã xuất hiện cả ở phương diện chính sách lẫn tư duy điều hành. Hàng loạt quy định, nghị quyết và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành với mục tiêu tạo động lực mới cho khu vực tư nhân, coi doanh nghiệp là trung tâm của quá trình phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy nhiều rào cản trong môi trường đầu tư kinh doanh vẫn chưa được xử lý triệt để. Đây được xem là trở ngại lớn đối với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động.

Tại tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW” diễn ra ngày 13/5, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho biết hiện cả nước mới có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Như vậy, trong 6 năm tới, nền kinh tế cần bổ sung thêm khoảng 1 triệu doanh nghiệp, tương đương trung bình mỗi năm tăng khoảng 200.000 doanh nghiệp mới.

Theo ông, đây là mục tiêu rất khó nếu chất lượng môi trường kinh doanh không được cải thiện theo hướng thực chất hơn. Những vướng mắc về điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính hay cách thức thực thi chính sách hiện nay vẫn đang tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.

Điều đáng lo ngại là tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập thị trường so với số doanh nghiệp rời bỏ thị trường đang giảm dần qua từng giai đoạn. Nếu giai đoạn 2016-2020, cứ hai doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay lại hoạt động thì có một doanh nghiệp rút lui, thì từ năm 2021 đến nay, tỷ lệ này gần như chỉ còn ở mức “một đổi một”.

Số liệu được ông Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban IV, công bố cũng phản ánh rõ áp lực này. Trong ba tháng đầu năm 2026, trung bình mỗi tháng có khoảng 32.000 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay trở lại thị trường, nhưng số doanh nghiệp rút lui cũng lên tới khoảng 30.400. Như vậy, số doanh nghiệp tăng ròng chỉ khoảng 1.600 mỗi tháng, mức tăng được đánh giá là rất thấp so với mục tiêu dài hạn.

Theo các chuyên gia, nếu không có thay đổi mang tính tổng thể về cách tiếp cận trong cải thiện môi trường kinh doanh, mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 sẽ khó thành hiện thực.

Cần cải cách từ “gốc”, tăng giám sát độc lập

Các chuyên gia cho rằng vấn đề hiện nay không chỉ nằm ở số lượng văn bản được ban hành mà quan trọng hơn là hiệu quả thực thi trong thực tế. TS Nguyễn Đình Cung nhận định việc đánh giá chính sách cần dựa trên tác động cụ thể đối với doanh nghiệp như mức tiết giảm chi phí, thời gian thực hiện thủ tục hay khả năng tiếp cận thị trường, thay vì chỉ dừng ở những báo cáo mang tính hình thức.

Theo ông, một trong những yêu cầu cấp thiết là phải tiếp tục cắt giảm mạnh ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đồng thời chuyển từ phương thức “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Việc rà soát toàn bộ danh mục hiện hành để loại bỏ thêm ít nhất một phần ba điều kiện kinh doanh được xem là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo quy định của Hiến pháp.

TS Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng cần thiết lập cơ chế giám sát thực thi tương đối độc lập để đánh giá khách quan hiệu quả của chính sách. Theo đó, các bộ, ngành không nên tự đánh giá kết quả thực hiện của chính mình mà phải có hệ thống theo dõi riêng nhằm bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả cải cách.

Ông nhấn mạnh, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp chỉ được củng cố khi chính sách thực sự dễ hiểu, minh bạch và tạo ra lợi ích cụ thể cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó, doanh nghiệp mới mạnh dạn mở rộng đầu tư, đổi mới sáng tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của nền kinh tế.

Ngoài cải cách thể chế, nhiều ý kiến cũng đề cập đến việc phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp. TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng muốn nuôi dưỡng doanh nghiệp mạnh cần đồng thời phát triển tín dụng dài hạn, chính sách công nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng môi trường pháp lý ổn định.

Bên cạnh đó, mô hình “doanh nghiệp một chủ” cũng được xem là hướng đi đáng chú ý đối với Việt Nam. Ông Bùi Thanh Minh dẫn kinh nghiệm từ Singapore và Pháp, nơi doanh nghiệp một chủ chiếm từ 50% đến 70% số doanh nghiệp đăng ký mới mỗi năm. Trong khi đó, tại Việt Nam, mô hình này vẫn rất hạn chế dù có ưu điểm là chi phí thấp, thủ tục đơn giản và phù hợp với cá nhân khởi nghiệp.

Theo các chuyên gia, doanh nghiệp một chủ có thể trở thành bước khởi đầu để người dân thử nghiệm ý tưởng kinh doanh trước khi phát triển lên mô hình công ty lớn hơn. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn thiếu nền tảng pháp lý phù hợp để hỗ trợ hiệu quả cho mô hình này.

Nhiều ý kiến cho rằng điều quyết định thành công của Nghị quyết 68 không nằm ở số lượng chính sách được ban hành mà ở khả năng chuyển hóa chính sách thành niềm tin thực sự cho cộng đồng doanh nghiệp. Nếu tư duy quản lý không thay đổi theo hướng hỗ trợ thay vì kiểm soát, đồng thời thiếu cơ chế giám sát khách quan trong thực thi, mục tiêu phát triển 2 triệu doanh nghiệp sẽ tiếp tục là bài toán khó đối với nền kinh tế Việt Nam.

Đăng ký đặt báo