
Nhập siêu tăng, chủ yếu do nhu cầu nguyên liệu sản xuất
Theo Thông báo số 443/TB-VPCP ngày 20/8 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã đưa ra nhiều yêu cầu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời kiểm soát nhập siêu trong những tháng cuối năm.
Số liệu được báo cáo tại cuộc họp cho thấy xuất khẩu tiếp tục là điểm sáng của hoạt động thương mại. Đến hết tháng 7, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 319,7 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này đã cao hơn mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15-16% được đặt ra cho cả năm. Tuy nhiên, đà tăng mạnh của xuất khẩu chưa đủ để cân bằng tốc độ nhập khẩu. Cán cân thương mại hàng hóa sau 7 tháng ghi nhận mức nhập siêu khoảng 20,3 tỷ USD.
Điểm đáng chú ý là phần lớn giá trị nhập khẩu tập trung vào các nhóm hàng có liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, đầu tư và bảo đảm nguồn cung năng lượng trong nước. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là một trong những nhóm đóng góp lớn vào mức nhập siêu. Tuy nhiên, lượng hàng nhập khẩu trong nhóm này chủ yếu là nguyên vật liệu và linh kiện trung gian, được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh cũng như các dự án mở rộng đầu tư.

Diễn biến này cho thấy nhập khẩu trong lĩnh vực điện tử không hoàn toàn phản ánh nhu cầu tiêu dùng cuối cùng mà còn gắn với quá trình mở rộng năng lực sản xuất. Khi doanh nghiệp tăng đầu tư và gia tăng đơn hàng, nhu cầu nhập khẩu linh kiện, nguyên liệu đầu vào cũng tăng theo.
Ở lĩnh vực năng lượng, áp lực nhập khẩu xuất phát từ sự mất cân đối giữa nguồn cung trong nước và nhu cầu sử dụng. Sản lượng khai thác dầu khí, than trong nước có xu hướng giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ tiếp tục tăng. Việt Nam vì vậy phải gia tăng nhập khẩu một số loại nhiên liệu, nguyên liệu năng lượng để duy trì sản xuất, cân đối cung - cầu và bảo đảm an ninh năng lượng.
Tình hình quốc tế cũng tạo thêm sức ép. Xung đột tại Trung Đông và nguy cơ đứt gãy nguồn cung có thể tác động đến giá cả cũng như khả năng tiếp cận các nguồn năng lượng trên thị trường thế giới. Trong khi đó, nhập khẩu lớn hóa chất, chất dẻo nguyên liệu, kim loại và một số nguyên liệu khác lại phản ánh rõ hơn những hạn chế nội tại của nền kinh tế. Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, trong khi công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên liệu của các ngành sản xuất khiến doanh nghiệp vẫn phải phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài.
Do đó, bài toán kiểm soát nhập siêu được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu duy trì sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu. Việc giảm nhập khẩu bằng các biện pháp hành chính không phải là giải pháp duy nhất; quan trọng hơn là nâng năng lực cung ứng trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Mở thêm cửa xuất khẩu, tháo gỡ thủ tục và tăng khả năng tiếp cận vốn
Trước yêu cầu vừa duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu, vừa cải thiện cán cân thương mại, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành triển khai đồng thời nhiều nhóm giải pháp. Bộ Công Thương được giao phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng hoạt động tại thị trường quốc tế, đặc biệt là khả năng tiếp cận trực tiếp các hệ thống phân phối hiện đại và chuỗi bán lẻ toàn cầu.
Cùng với đó, tiến độ đàm phán các hiệp định thương mại ưu đãi và hiệp định thương mại tự do với những đối tác mới phải được đẩy nhanh. Trong quý III, Việt Nam dự kiến khởi động đàm phán với Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), mở thêm dư địa cho hàng hóa trong nước tiếp cận các thị trường mới.
Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được yêu cầu bám sát nhu cầu thị trường và tận dụng nhanh các đơn hàng có khả năng tăng trưởng. Những nhóm hàng như điện tử, máy móc, nông sản và thủy sản được xác định là các lĩnh vực cần tập trung. Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ tăng cường khai thác các thị trường mới như Halal, Mỹ La-tinh và châu Phi, qua đó đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Đối với ngành điện tử, Bộ Công Thương phải làm việc với các doanh nghiệp có sự chênh lệch lớn giữa kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu. Việc rà soát nhằm xác định nguyên nhân nhập khẩu, tiến độ sử dụng nguyên liệu, linh kiện và thúc đẩy sớm quá trình sản xuất, xuất khẩu sản phẩm. Bộ Công Thương đồng thời rà soát các mặt hàng công nghiệp mà doanh nghiệp trong nước đã có năng lực sản xuất để đề nghị Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh mức thuế nhập khẩu ưu đãi phù hợp.
Một điểm nghẽn khác được yêu cầu xử lý là hoàn thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Bộ Tài chính sẽ rà soát quy trình hoàn thuế theo hướng tăng cường phân loại rủi ro, ưu tiên xử lý nhanh hồ sơ của những doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật.
Các nhóm vướng mắc thường gặp cũng cần được hướng dẫn rõ ràng để doanh nghiệp chủ động hoàn thiện hồ sơ, hạn chế thời gian chờ đợi và chi phí phát sinh. Đối với các doanh nghiệp điện tử có tỷ trọng lớn linh kiện nhập khẩu từ công ty mẹ hoặc doanh nghiệp cùng tập đoàn, cơ quan quản lý tài chính được yêu cầu tăng cường kiểm tra trị giá và giao dịch liên kết nhằm hạn chế nguy cơ chuyển giá.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao đẩy nhanh quá trình đàm phán, ký kết các nghị định thư để mở cửa thêm thị trường cho nông sản, trái cây Việt Nam. Tiến độ xử lý hồ sơ cấp mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói và cơ sở chế biến phục vụ xuất khẩu cũng phải được đẩy nhanh. Đây là điều kiện quan trọng để nông sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và duy trì khả năng xuất khẩu ổn định.
Song song với mở cửa thị trường, ngành nông nghiệp tiếp tục triển khai các nhiệm vụ chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), đồng thời thúc đẩy đàm phán để gỡ "thẻ vàng" IUU. Nguồn vốn phục vụ xuất khẩu cũng được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được yêu cầu có giải pháp giúp doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận tín dụng, trong đó ưu tiên bố trí đủ vốn cho hoạt động thu mua, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản trong những tháng cuối năm.
Ở khâu thủ tục, các bộ, ngành phải tiếp tục đơn giản hóa quy trình, tăng cường quản lý dựa trên rủi ro và hạn chế tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo. Dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước cần được tăng cường kết nối, đồng thời mở rộng dịch vụ công trực tuyến để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Đối với logistics, Bộ Xây dựng được giao phối hợp với địa phương, doanh nghiệp cảng, hãng vận tải và cơ quan hải quan tổ chức điều tiết giao thông, bố trí luồng ưu tiên tại các cảng và cửa ngõ logistics lớn trong những giai đoạn xuất khẩu cao điểm. Các địa phương có dự án, nhà máy vừa tăng vốn đầu tư và phát sinh lượng nhập khẩu lớn máy vi tính, sản phẩm điện tử, linh kiện cũng được yêu cầu chủ động làm việc với doanh nghiệp. Mục tiêu là thúc đẩy nhanh việc đưa nguyên vật liệu, linh kiện đã nhập khẩu vào sản xuất và tạo ra sản phẩm xuất khẩu.
Chính quyền địa phương đồng thời phải theo dõi sát đơn hàng và hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực, kịp thời phát hiện những khó khăn liên quan đến thị trường, lao động, logistics hoặc quy định của nước nhập khẩu. Việc hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần đi sâu vào từng ngành hàng, nhất là những tiêu chuẩn mà hàng hóa Việt Nam còn chưa đáp ứng được. Các nội dung cần tập trung gồm kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng và hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật.
Bộ Ngoại giao được giao phát huy mạng lưới cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cùng cộng đồng người Việt và doanh nhân Việt Nam tại các quốc gia để kết nối doanh nghiệp trong nước với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối, chuỗi bán lẻ và đối tác sở tại.
Như vậy, thay vì chỉ tập trung vào con số nhập siêu, các nhiệm vụ được Chính phủ đặt ra hướng tới xử lý đồng thời cả hai phía của cán cân thương mại: mở rộng đầu ra cho hàng Việt và củng cố năng lực sản xuất trong nước. Đây được xem là hướng đi quan trọng để tận dụng đà tăng trưởng xuất khẩu hiện nay, đồng thời từng bước giảm sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu.