Vai trò của đô thị xanh trong phát triển bền vững
Đô thị xanh không chỉ là một khẩu hiệu mà đã trở thành tiêu chí đánh giá cụ thể trong tiến trình quy hoạch, xây dựng và nâng loại đô thị.
Đô thị xanh được hiểu là các thành phố, khu đô thị phát triển theo hướng thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy không gian xanh, sử dụng vật liệu bền vững, phát triển hạ tầng giao thông không phát thải, tiết kiệm năng lượng, nước và tài nguyên ở tất cả các giai đoạn từ xây dựng đến vận hành. Đô thị xanh giúp điều hòa khí hậu, cắt giảm ô nhiễm không khí, cải thiện sức khỏe cộng đồng, nâng cao giá trị bất động sản và thúc đẩy phúc lợi xã hội.
Việc phát triển đô thị xanh đã được khẳng định trong nhiều chính sách lớn của Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 về phân loại đô thị; Nghị định số 35/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về phân loại đô thị; cùng các quyết định, chương trình hành động, đề án phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu.

Những định hướng lớn và tiêu chí phát triển đô thị xanh tại Việt Nam
Đổi mới tư duy quy hoạch và lồng ghép tiêu chí xanh
Theo các quy định mới, phân loại đô thị không còn dừng lại ở các chỉ số quen thuộc như dân số, mật độ hay vai trò trung tâm vùng, mà được bổ sung nhóm tiêu chí phản ánh mức độ bền vững của quá trình phát triển. Trong đó, phát triển đô thị tăng trưởng xanh được xác định là một nội dung xuyên suốt, gắn với quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đô thị trong dài hạn.
Cách tiếp cận này phản ánh rõ quan điểm: Đô thị không chỉ là không gian tập trung dân cư và hoạt động kinh tế, mà còn là hệ sinh thái sống, nơi các yếu tố hạ tầng, môi trường và con người phải được tổ chức hài hòa. Khi tiêu chí tăng trưởng xanh được đưa vào hệ thống phân loại, đô thị được đặt trước yêu cầu phải chứng minh năng lực phát triển bền vững, chứ không chỉ khả năng mở rộng quy mô.
Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định số 35/2026/NĐ-CP đã làm rõ khái niệm phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo hướng dễ áp dụng trong thực tiễn. Đó là quá trình phát triển đô thị gắn với hạ tầng xanh, không gian xanh, công trình xanh và quản lý tài nguyên hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển của từng đô thị.

Yêu cầu cụ thể về phát triển đô thị tăng trưởng xanh
Theo Nghị định 35/2026/NĐ-CP, các hoạt động phát triển đô thị tăng trưởng xanh được triển khai và vận hành dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các hệ thống thông tin khác bảo đảm tích hợp, kết nối, chia sẻ và sử dụng hiệu quả dữ liệu trong toàn hệ thống đô thị. Đồng thời, tổ chức cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, năng lực của các tổ chức, cá nhân có liên quan, bố trí nguồn lực, hợp tác công tư, sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các bên liên quan trong phát triển đô thị tăng trưởng xanh.
Đối với tiêu chí phát triển đô thị tăng trưởng xanh, UBND cấp tỉnh sẽ xác định tiêu chí bắt buộc áp dụng và các tiêu chí địa phương lựa chọn áp dụng trong từng giai đoạn cụ thể, căn cứ vào điều kiện thực tế của từng đô thị.
Các yêu cầu cụ thể đối với đô thị hiện hữu bao gồm:
- Sử dụng vật liệu phát thải carbon thấp, thân thiện với môi trường
- Có hệ thống công trình tiết kiệm năng lượng
- Khôi phục, cải tạo kênh mương, ao, hồ, đầm, hệ thống thu giữ, lưu trữ, thoát nước và xử lý nước thải, xử lý môi trường nước đô thị
- Quy hoạch, bố trí các khu vực không gian công cộng, tăng tỷ lệ diện tích đất cây xanh, hạn chế việc bố trí các khu dân cư vào địa điểm di dời
- Thực hiện cải tạo, chỉnh trang tuyến phố hoặc di dời các công trình gây ô nhiễm môi trường tại đô thị
Đối với khu vực đô thị mở rộng, địa phương phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch có liên quan đến các tiêu chí phát triển đô thị tăng trưởng xanh.
Hạ tầng xanh và giao thông bền vững
Một trong những nội dung cốt lõi của quy hoạch đô thị xanh là hạ tầng xanh. Không gian cây xanh, mặt nước, các hành lang sinh thái và hệ thống thoát nước tự nhiên không chỉ có vai trò cải thiện cảnh quan, mà còn góp phần điều hòa vi khí hậu, giảm ngập và tăng khả năng chống chịu trước các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Bên cạnh đó, phát triển giao thông theo hướng thân thiện môi trường cũng được đặt ra như một yêu cầu quan trọng. Việc ưu tiên giao thông công cộng, giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và từng bước thúc đẩy các loại hình giao thông ít phát thải được xem là một phần của quá trình xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.
Công trình xanh và quản lý tài nguyên
Các công trình sử dụng hiệu quả năng lượng, tiết kiệm nước, giảm phát thải trong quá trình vận hành được khuyến khích như một xu hướng tất yếu. Khi số lượng và tỷ lệ công trình xanh gia tăng, đô thị không chỉ giảm áp lực lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật, mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống cho cư dân.
Quy hoạch xanh cũng tối ưu sử dụng đất, tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí xây dựng hạ tầng và di chuyển, đồng thời thúc đẩy thị trường công trình xanh bền vững.
Thực trạng và thách thức trong phát triển đô thị xanh tại Việt Nam
Thành tựu và bước tiến quan trọng
Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng trong quy hoạch đô thị với tốc độ đô thị hóa ở mức cao (40% năm 2022 so với 30,5% năm 2010), đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở đô thị. Chất lượng nhiều đô thị được nâng cao nhanh chóng, từ nhà ở đến hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ xã hội. Nhiều không gian xanh được mở rộng, nhiều khu thương mại, dịch vụ và giải trí được xây dựng. Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 88%; tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch giảm còn khoảng 20%. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải tại đô thị đạt khoảng 86%.
Các đề án phát triển đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu đã được triển khai qua nhiều giai đoạn, tập trung vào các đô thị lớn, đô thị ven biển, vùng đồng bằng và miền núi, từng bước nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hạn chế và thách thức
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Tốc độ phát triển nhanh, song lại thiếu chiến lược tổng thể và bền vững
- Kết cấu hạ tầng đô thị chưa đồng bộ với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
- Lãng phí tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực đất đai và con người
- Năng lực quản lý còn hạn chế
- Quy hoạch còn chồng chéo, thiếu tính liên kết
- Các đô thị trung tâm chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, kết nối
- Chất lượng phát triển giữa các đô thị chưa đồng đều
- Cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa
- Tình trạng ùn tắc giao thông, ngập úng, thiếu hệ thống xử lý rác thải, nước thải… chưa được giải quyết triệt để
Đặc biệt, diện tích cây xanh, mặt nước, hồ điều hòa tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đang bị thu hẹp nghiêm trọng. Mật độ cây xanh tại Hà Nội chỉ còn 0,8m2/người, TP. Hồ Chí Minh là 2m2/người, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế (20-25m2/người). Việc san lấp hồ điều hòa để lấy đất xây dựng nhà ở, bê tông hóa không gian đô thị làm tăng nhiệt độ, giảm khả năng thoát nước, gây ngập úng và ảnh hưởng đến chất lượng không khí.
Hạ tầng kỹ thuật, giao thông chưa đồng bộ, nhiều nơi chắp vá, không tính hết được áp lực của phát triển xã hội lên hạ tầng. Nhà cao tầng sử dụng tấm kính tăng hiện tượng hấp thu nhiệt, làm tăng nhiệt độ ở đô thị. Các quy định về cốt mặt bằng trong xây dựng đô thị chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tình trạng úng ngập khi mưa lớn.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do kết cấu hạ tầng đô thị chưa thật sự đồng bộ, dân số ngày càng tăng, nhà cao tầng ngày càng nhiều tại khu vực đô thị, gây áp lực lên hạ tầng giao thông, hạ tầng thoát nước. Lợi ích của một số nhà đầu tư khiến quy hoạch đô thị đã cắt giảm diện tích cây xanh, tăng cường xây dựng nhiều nhà cao tầng mà không tính đến những tác động trở lại của biến đổi khí hậu.
Giải pháp đồng bộ phát triển đô thị xanh hướng tới tăng trưởng bền vững
Đổi mới toàn diện phương pháp quy hoạch
Các chuyên gia khuyến nghị Việt Nam cần đổi mới tư duy, lý luận và phương pháp quy hoạch đô thị; bảo đảm quy hoạch đô thị phải có tầm nhìn dài hạn, đồng bộ và hiện đại, lấy con người và chất lượng cuộc sống làm trung tâm. Quy hoạch đô thị cần có cách tiếp cận đa ngành, bao trùm với tầm nhìn dài hạn, toàn diện, có tính chiến lược, tôn trọng quy luật thị trường và nguyên tắc phát triển bền vững; bảo đảm tính tầng bậc, liên tục, thống nhất, đầy đủ, tích hợp của hệ thống quy hoạch; gắn kết chặt chẽ với quy hoạch nông thôn.
Công tác quy hoạch đô thị cần phân định rõ các vùng trong nội dung quy hoạch và áp dụng các công cụ kiểm soát phát triển theo quy hoạch và kế hoạch; gắn quy hoạch đô thị với nguồn lực thực hiện. Cùng đó, cần chú trọng quy hoạch xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khu công cộng, quy hoạch quản lý sử dụng không gian nối, không gian ngầm và hệ thống công trình ngầm đô thị.
Tăng cường không gian xanh, mặt nước và hạ tầng sinh thái
Một trong những giải pháp quan trọng là bảo tồn và phát triển không gian xanh, mặt nước như công viên, hồ điều hòa, hành lang sinh thái, mái nhà xanh. Cần giữ lại những hồ điều hòa tại các đô thị, giảm bê tông hóa, tạo ra không gian thoáng đãng, điều hòa vi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Tích hợp hạ tầng chống ngập với cảnh quan và không gian công cộng, bổ sung không gian xanh, tăng cường phủ xanh đô thị, xây dựng các khu đô thị thích ứng biến đổi khí hậu, phục hồi thiên nhiên.
Phát triển công trình xanh và giao thông bền vững
Khuyến khích xây dựng các công trình sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, phát thải carbon thấp, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả nước và tài nguyên. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý đô thị, kiểm kê khí nhà kính tự động cho công trình xây dựng, hướng tới mục tiêu NetZero vào năm 2050.
Phát triển hệ thống giao thông công cộng, giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân, thúc đẩy các loại hình giao thông ít phát thải, xây dựng hạ tầng giao thông không phát thải.
Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức cộng đồng
Tổ chức cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, năng lực của các tổ chức, cá nhân có liên quan, bố trí nguồn lực, hợp tác công tư, sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các bên liên quan trong phát triển đô thị tăng trưởng xanh.
Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có tư duy tích hợp, năng lực số, khả năng điều phối liên ngành, phục vụ hiệu quả mô hình chính quyền hai cấp.
Chính sách và thể chế đồng bộ
Hoàn thiện thể chế pháp luật về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị; điều chỉnh quy hoạch hệ thống đô thị - nông thôn và xây dựng; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát triển đô thị, kết nối với cơ sở dữ liệu đất đai, dân cư, đầu tư, hạ tầng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, chia sẻ kinh nghiệm trong quy hoạch TOD (Transit Oriented Development), phát triển đô thị carbon thấp và hạ tầng thông minh.
Có thể thấy, quy hoạch đô thị xanh không chỉ là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng sống cho cư dân đô thị. Để hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy quy hoạch, lồng ghép tiêu chí xanh vào toàn bộ chu trình phát triển đô thị, phát triển hạ tầng xanh, công trình xanh, giao thông bền vững, nâng cao năng lực quản lý và nhận thức cộng đồng, hoàn thiện thể chế đồng bộ.
Đô thị xanh chính là giải pháp tổng thể, lâu dài để Việt Nam phát triển bền vững, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng hệ sinh thái đô thị hiện đại, thông minh, thân thiện môi trường, nâng cao vị thế quốc gia trong tiến trình hội nhập và phát triển.