[Infographic] Khi nào người nộp thuế được miễn tiền chậm nộp?

Nghị định 252/2026 quy định cụ thể 7 nhóm trường hợp không tính tiền chậm nộp, từ khoản ngân sách chưa thanh toán đến một số nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
nop-cham-thue-1786594324.png

Theo quy định mới, không phải mọi khoản thuế nộp sau thời hạn đều phát sinh tiền chậm nộp. Nghị định 252/2026 của Chính phủ đã xác định cụ thể những trường hợp người nộp thuế được loại trừ khoản tiền này, nhằm xử lý các tình huống mà việc chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính không hoàn toàn xuất phát từ phía người nộp thuế.

Một trong những trường hợp đáng chú ý là doanh nghiệp, tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhưng chưa được thanh toán. Quy định cũng áp dụng với nhà thầu phụ nếu thuộc hợp đồng đã ký với chủ đầu tư và được chủ đầu tư trực tiếp thanh toán. Phần nghĩa vụ thuế được loại trừ tiền chậm nộp không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn chưa thanh toán.

Khoảng thời gian được miễn tính tiền chậm nộp được xác định từ thời điểm đơn vị sử dụng ngân sách phải thanh toán nhưng chưa thực hiện đến khi khoản tiền được thanh toán thực tế. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với một số khoản thuế mà người nộp thuế có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay nhà thầu nước ngoài.

Khoanh nợ và xử lý nghĩa vụ thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền

Một nhóm khác liên quan đến người nộp thuế được khoanh nợ theo Luật Quản lý thuế 2025 trong trường hợp quyền khai thác, sử dụng đất hoặc khoáng sản bị hạn chế trên thực tế do nguyên nhân từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi phát sinh nợ nghĩa vụ tài chính về đất đai, khoáng sản, người nộp thuế sẽ không bị tính tiền chậm nộp trong thời gian được khoanh nợ theo quy định.

Ngoài ra, nếu người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, hóa đơn theo văn bản hành chính hoặc quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, hóa đơn thì khoản tiền này cũng không bị tính chậm nộp. Trường hợp này đồng thời không bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, hóa đơn theo quy định.

Nghị định cũng giữ lại các trường hợp không tính tiền chậm nộp đã được pháp luật quy định. Đối với khoản thuế nợ từng được xóa nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định phục hồi, tiền chậm nộp sẽ không được tính trong khoảng thời gian từ ngày xóa nợ đến ngày ban hành quyết định phục hồi khoản nợ.

Hàng hóa xuất nhập khẩu được áp dụng nhiều trường hợp loại trừ

Trong lĩnh vực hải quan, quy định mới dành riêng nhiều trường hợp không tính tiền chậm nộp. Cụ thể, với hàng hóa phải phân tích, phân loại hoặc giám định để xác định chính xác số thuế phải nộp, phần thuế tăng thêm sẽ không bị tính tiền chậm nộp trong thời gian chờ thực hiện các thủ tục theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

Tương tự, nếu hàng hóa chưa có giá chính thức tại thời điểm đăng ký tờ khai hoặc chưa xác định được các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan, phần thuế phát sinh tăng thêm trong thời gian chờ xác định các yếu tố này cũng được loại trừ tiền chậm nộp.

Đối với hàng nhập khẩu thuộc diện áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp có hiệu lực trở về trước 90 ngày, cơ quan hải quan không tính tiền chậm nộp trong khoảng thời gian hồi tố này. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc các trường hợp đặc biệt khác theo quy định cũng được áp dụng cơ chế tương ứng.

Một trường hợp khác là khi người nộp thuế sử dụng khoản thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp hoặc tiền phạt đã nộp thừa để bù trừ với nghĩa vụ còn nợ. Khi đó, phần nghĩa vụ được bù trừ sẽ không tính tiền chậm nộp từ thời điểm phát sinh khoản nộp thừa cho đến khi cơ quan thuế thực hiện việc bù trừ.

Các quy định mới hướng tới việc bảo đảm tiền chậm nộp chỉ được áp dụng đối với những nghĩa vụ thực sự thuộc trách nhiệm của người nộp thuế, đồng thời tháo gỡ vướng mắc đối với những trường hợp việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính phụ thuộc vào quá trình xử lý của cơ quan nhà nước hoặc các yếu tố khách quan trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Đăng ký đặt báo