
Chiều 10/8, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ, tập trung vào việc đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, qua đó tạo thuận lợi cho sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.

Tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, trong 7 tháng đầu năm 2026, cả nước đã thu hoạch khoảng 768.000 tấn sầu riêng. Từ nay đến cuối năm, sản lượng dự kiến còn khoảng 1,3 triệu tấn, phần lớn tập trung tại Tây Nguyên.
Việc sản lượng dồn vào các tháng 8-10 đặt ra yêu cầu phải chủ động từ khâu thu hoạch, kiểm nghiệm, sơ chế đến vận chuyển và logistics. Nếu các mắt xích trong chuỗi không được tổ chức đồng bộ, nguy cơ ùn ứ trong thời gian cao điểm có thể gia tăng, ảnh hưởng đến tiến độ tiêu thụ và xuất khẩu.
Theo ông Nguyễn Hoàng Hiệp, năng lực kiểm nghiệm sầu riêng hiện cơ bản đáp ứng yêu cầu. Đến ngày 5/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã chấp thuận 50 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam, trong đó có 47 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu cadimi và 39 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu vàng O. Công suất của hệ thống đạt khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với vàng O.

Tại Tây Nguyên, 6 phòng kiểm nghiệm đã được phía Trung Quốc chấp thuận, với tổng công suất khoảng 900 mẫu/ngày đối với mỗi chỉ tiêu. Khi kết hợp với năng lực kiểm nghiệm tại các khu vực lân cận và trên các tuyến vận chuyển đến cửa khẩu, hệ thống hiện có về cơ bản đủ khả năng đáp ứng nhu cầu trong mùa thu hoạch tập trung.
Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, vấn đề hiện nay không chủ yếu nằm ở số lượng phòng kiểm nghiệm mà ở cách thức tổ chức vận hành. Việt Nam đang chuyển hướng tăng cường kiểm nghiệm ngay tại vùng sản xuất và cơ sở đóng gói, giúp kiểm soát chất lượng sớm hơn và hạn chế áp lực dồn về cửa khẩu.

Song song với đó, việc triển khai Nghị quyết 36 đang được đẩy mạnh tại các địa phương có vùng sản xuất lớn như Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và Quảng Ngãi. Theo ông Hiệp, những vướng mắc về thủ tục pháp lý đối với các vùng sản xuất sầu riêng lớn cơ bản đã được tháo gỡ. Đến hết tháng 7/2026, Việt Nam có 1.201 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động. Ngoài ra, 1.166 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt. Việc hoàn thiện hệ thống mã số được kỳ vọng góp phần chuẩn hóa vùng nguyên liệu, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Không chỉ tập trung tháo gỡ các yêu cầu kỹ thuật tại thị trường Trung Quốc, Việt Nam đang đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm tạo thêm dư địa cho sản phẩm sầu riêng. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 diện tích sầu riêng cả nước khoảng 200.000 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm khoảng 129.500 ha. Sản lượng dự kiến đạt khoảng 2,08 triệu tấn. Các vùng sản xuất chủ lực tập trung tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Sầu riêng cũng đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu rau quả. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. Riêng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu gần 1 triệu tấn sầu riêng tươi và khoảng 117.000 tấn đông lạnh.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 493.000 tấn, với giá trị 950,7 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm sầu riêng tươi của Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Từ tháng 7-2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở thêm một thị trường tiêu thụ lớn cho ngành hàng này. Bên cạnh đó, Việt Nam đang tiếp tục đàm phán với Australia, New Zealand và một số thị trường tiềm năng khác nhằm mở rộng đầu ra.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết đã giao hệ thống thương vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường quảng bá hình ảnh sầu riêng Việt Nam, tìm kiếm và phát triển các thị trường mới, đồng thời thúc đẩy đàm phán mở cửa thêm những thị trường khác.

Với nguồn cung lớn và thị trường xuất khẩu đang được mở rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm nay có thể vượt 4 tỷ USD. Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng đánh giá Nghị quyết 36 đã được triển khai quyết liệt, kịp thời tháo gỡ nhiều vướng mắc liên quan đến mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Những kết quả này đang tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.
Tuy nhiên, Phó thủ tướng cho rằng tốc độ phát triển nhanh của ngành hàng cũng đặt ra yêu cầu phải có giải pháp căn cơ, lâu dài. Việc tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng, quy hoạch vùng trồng, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm cần được triển khai đồng bộ.
Phó thủ tướng yêu cầu ngành nông nghiệp rà soát, quản lý chặt diện tích sầu riêng cũng như các vùng trồng cây ăn quả, đồng thời tăng cường cung cấp thông tin thị trường để người dân có cơ sở trước khi mở rộng sản xuất.
"Không để xảy ra tình trạng người dân 'đua nhau' mở rộng diện tích sầu riêng, đến một thời điểm dẫn đến dư thừa sản phẩm, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân" - Phó thủ tướng nhấn mạnh.
Bên cạnh kiểm soát nguồn cung, việc xây dựng thương hiệu cũng được xác định là nhiệm vụ lâu dài. Phó thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương chú trọng xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam, từng bước tạo dấu ấn để khi nhắc đến sầu riêng, thị trường quốc tế có thể nhận diện sản phẩm của Việt Nam.
Theo Phó thủ tướng, Tây Nguyên và những vùng sản xuất có lợi thế cần được phát huy để tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, nâng cao sức cạnh tranh.
"Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài, bởi nếu không xây dựng được thương hiệu, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh thì về lâu dài sầu riêng Việt Nam sẽ khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế" - Phó thủ tướng lưu ý.
Việc đồng thời tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, mở rộng thị trường và kiểm soát chặt vùng sản xuất được xem là hướng đi quan trọng để ngành sầu riêng duy trì đà tăng trưởng. Trong đó, thỏa thuận về tiêu chuẩn kiểm nghiệm và công nhận kết quả với Trung Quốc có thể trở thành một bước tiến đáng kể, góp phần giảm áp lực tại cửa khẩu và nâng hiệu quả xuất khẩu trong những tháng cao điểm.
Trần Huyền