
Trong bối cảnh nông nghiệp đứng trước yêu cầu nâng cao năng suất, tiết kiệm tài nguyên và giảm chi phí sản xuất, cơ giới hóa ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình chuyển đổi phương thức canh tác. Bên cạnh máy móc phục vụ làm đất, thu hoạch hay chế biến, máy bay không người lái (drone) đang mở rộng khả năng ứng dụng ở những công đoạn vốn phụ thuộc nhiều vào sức lao động, đặc biệt là phun thuốc, bón phân và gieo hạt.
Sự dịch chuyển này không đơn thuần nằm ở việc đưa một thiết bị mới vào đồng ruộng. Khi được vận hành đúng cách, công nghệ bay có thể giúp người sản xuất tiếp cận diện tích canh tác lớn trong thời gian ngắn hơn, đồng thời tạo điều kiện quản lý vật tư và tổ chức mùa vụ hiệu quả hơn. Tuy nhiên, để những lợi ích ấy chuyển hóa thành giá trị thực tế, thiết bị cần được đặt trong một quy trình sản xuất phù hợp, thay vì chỉ được nhìn nhận qua công suất hay tính năng kỹ thuật.
Mới đây, DJI Agriculture giới thiệu máy bay không người lái nông nghiệp T55 tại TP.HCM, hướng đến nhu cầu chăm sóc lúa và cây ăn quả. Sản phẩm tích hợp chức năng phun và rải, tiếp tục cho thấy xu hướng mở rộng ứng dụng công nghệ bay trong nhiều khâu canh tác tại Việt Nam.

Theo DJI Agriculture, sản xuất lúa nước quy mô lớn là một trong những lĩnh vực ứng dụng chính của máy bay không người lái tại Việt Nam. Trung bình mỗi vụ, nông dân thực hiện khoảng 10 lượt công việc liên quan đến kiểm soát cỏ dại, phòng trừ nấm bệnh, côn trùng, gieo hạt và bón phân.
Đối với những diện tích canh tác rộng, việc sử dụng thiết bị bay có thể hỗ trợ giảm khối lượng thao tác trực tiếp và rút ngắn thời gian xử lý đồng ruộng. Số liệu thực tế từ người dùng được doanh nghiệp dẫn lại cho thấy drone có thể xử lý khoảng 20–30 ha/ngày, trong khi phương pháp phun thủ công đạt khoảng 1–2 ha/ngày. Lượng thuốc sử dụng được ghi nhận giảm khoảng 20%, còn lượng nước phun giảm 80% so với phương pháp thủ công.

Cùng với đó, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào loại cây trồng, diện tích, địa hình, thiết bị và quy trình vận hành. Dù vậy, khả năng xử lý diện tích lớn trong thời gian ngắn là một trong những yếu tố khiến máy bay không người lái được quan tâm trong quá trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp.
Ngoài lúa nước, thiết bị bay còn được ứng dụng trong chăm sóc cà phê, sầu riêng và chuối. Với sầu riêng, mỗi năm vườn cây có thể cần khoảng 30–40 lượt chăm sóc, bảo vệ thực vật. Drone được cho là có thể đảm nhận khoảng 90% khối lượng công việc phun, giảm 80% lượng nước và 25% lượng thuốc sử dụng.
Đối với cây chuối, doanh nghiệp ghi nhận khả năng phun đồng đều hơn khi sử dụng thiết bị bay. Bên cạnh đó, những khác biệt về chiều cao cây, cấu trúc tán, mật độ trồng và địa hình khiến việc ứng dụng drone cần được tính toán theo từng loại cây trồng. Thiết bị có thể hỗ trợ quá trình chăm sóc, nhưng không thay thế việc theo dõi sâu bệnh, lựa chọn biện pháp phòng trừ phù hợp và tuân thủ quy trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

T55 được DJI Agriculture giới thiệu với bình phun dung tích 50 lít, hệ thống vòi phun kép có lưu lượng tối đa 40 lít/phút và tùy chọn hệ thống bốn vòi nâng lưu lượng tối đa lên 50 lít/phút. Ở chức năng rải, thiết bị có bình chứa 80 lít, tải trọng rải tối đa 55 kg và lưu lượng tối đa 400 kg/phút khi đo với phân bón hỗn hợp.
Máy có trọng lượng rỗng khoảng 36,7 kg, chưa bao gồm pin, được thiết kế thêm tay cầm hỗ trợ vận chuyển. Hệ thống vận hành gồm bộ điều khiển có màn hình 7 inch, truyền hình ảnh O4 với phạm vi công bố lên đến 2 km, cùng radar hỗ trợ nhận diện và tránh chướng ngại vật. Ứng dụng DJI SmartFarm cho phép theo dõi số lần thực hiện công việc và lượng thuốc đã sử dụng.

Các tính năng này hướng đến việc hỗ trợ người vận hành trong quá trình phun, rải và quản lý hoạt động trên đồng ruộng. Tuy nhiên, hiệu quả cơ giới hóa không chỉ phụ thuộc vào thông số thiết bị mà còn liên quan đến khả năng tổ chức dịch vụ, đào tạo nhân lực và chi phí khai thác trong thực tế.
Được biết, doanh nghiệp đã đào tạo hơn 10.000 phi công drone tại Việt Nam, có mạng lưới dịch vụ tại hơn 20 tỉnh, thành với hơn 150 cửa hàng. Người dùng chủ yếu là các đội bảo vệ thực vật; một bộ phận vừa sản xuất nông nghiệp, vừa cung cấp dịch vụ vận hành thiết bị cho các hộ khác. Mô hình này tạo thêm phương án tiếp cận công nghệ đối với những nông hộ chưa có điều kiện tự đầu tư máy bay không người lái.

Với định hướng nông nghiệp xanh, hiệu quả ứng dụng cần được đánh giá trên nhiều khía cạnh, từ lượng nước, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón sử dụng trên mỗi đơn vị diện tích đến chi phí lao động, vận hành và tác động môi trường. Đây là cơ sở để người sản xuất cân nhắc lựa chọn thiết bị, phương thức cung cấp dịch vụ và quy mô đầu tư phù hợp.

Võ Nga