
Tham dự hội thảo có ông Trịnh Văn Súy, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa; ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa; cùng các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại và đại diện nhiều địa phương trong tỉnh.
Hội thảo được đồng chủ trì bởi PGS.TS Tô Thế Nguyên, giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa.

Tại hội thảo, các nhà khoa học đã trình bày nhiều tham luận liên quan đến chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung phân tích thực trạng, những khó khăn, thách thức và đề xuất các giải pháp ứng dụng công nghệ số phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
Đáng chú ý, tham luận của Tiến sĩ Nguyễn Lan Hương, giảng viên Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra những rào cản lớn đang cản trở quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp đối với các đơn vị sản xuất quy mô nhỏ trên địa bàn Thanh Hóa.

Theo đó, có sáu nhóm rào cản mang tính cấu trúc gồm: hạn chế về nguồn lực tài chính; thiếu hụt nhân lực có kỹ năng số; nhận thức chưa đầy đủ về chuyển đổi số; hạ tầng công nghệ còn yếu; cơ chế, chính sách chưa đồng bộ; cùng những hạn chế trong thị trường và chuỗi giá trị số.
Không chỉ dừng lại ở việc nhận diện khó khăn, các nhà khoa học còn giới thiệu nhiều giải pháp công nghệ có tính ứng dụng cao, phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp của địa phương. Trong đó có các mô hình ứng dụng Internet vạn vật (IoT) trong quản lý chuồng trại chăn nuôi thông minh đối với lợn và gia cầm; hệ thống giám sát môi trường cho mô hình trồng rau - nuôi cá tuần hoàn (Aquaponics) quy mô hộ gia đình; hay các giải pháp cơ giới hóa trong thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi.

Các giải pháp này hướng tới xây dựng nền tảng quản lý tích hợp, cho phép người sản xuất theo dõi và giám sát các chỉ số môi trường theo thời gian thực, từ đó tối ưu hóa năng suất, kiểm soát dịch bệnh, tiết kiệm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên, từ thực tiễn sản xuất, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã cho rằng khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và khả năng áp dụng vào thực tế vẫn còn khá lớn.
Ông Lê Văn Phấn, đại diện Hợp tác xã Yên Lạc (xã Yên Ninh, tỉnh Thanh Hóa) chia sẻ rằng chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích nhưng không phải đơn vị nào cũng đủ nguồn lực để triển khai. Khó khăn lớn nhất hiện nay là chi phí đầu tư ban đầu, thiếu nhân lực vận hành hệ thống và khả năng tiếp cận các công nghệ mới còn hạn chế. Nhiều hộ sản xuất vẫn quen với phương thức canh tác truyền thống nên việc thay đổi tư duy và cách làm cần thêm thời gian.
Những ý kiến thẳng thắn từ doanh nghiệp, hợp tác xã đã giúp hội thảo nhận diện rõ hơn những “điểm nghẽn” trong quá trình chuyển đổi số nông nghiệp tại Thanh Hóa. Theo các đại biểu, muốn chuyển đổi số thành công, các giải pháp công nghệ cần được thiết kế theo hướng đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với quy mô sản xuất của nông dân và hợp tác xã, đồng thời phải mang lại hiệu quả kinh tế rõ ràng.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa nhấn mạnh rằng chuyển đổi số trong nông nghiệp là xu thế tất yếu và là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, theo ông Cường, việc chuyển giao khoa học công nghệ và ứng dụng các phần mềm số phải thực sự xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của người sản xuất. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành thường xuyên, đem lại lợi ích cụ thể cho người sử dụng. Nếu các phần mềm, thiết bị được đầu tư nhưng không khai thác hiệu quả thì sẽ gây lãng phí nguồn lực và khó tạo được sự lan tỏa trong cộng đồng.
Hội thảo không chỉ là diễn đàn trao đổi học thuật mà còn mở ra cơ hội kết nối giữa các nhà khoa học, cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã. Những kết quả nghiên cứu và các giải pháp được đề xuất sẽ là cơ sở quan trọng để Thanh Hóa từng bước tháo gỡ những rào cản trong quá trình chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, thông minh và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh ngày càng cao, việc ứng dụng công nghệ số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Gỡ được những “nút thắt” hiện nay sẽ tạo động lực để các nông sản chủ lực của Thanh Hóa vươn xa hơn trên thị trường trong nước và quốc tế.