
Từ áp lực “xanh hóa” đến cuộc tái cấu trúc ngành trồng trọt
Không còn chỉ cạnh tranh bằng sản lượng hay giá thành, nông sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn buộc phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế. Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu phát thải carbon và tiêu chuẩn xanh đang trở thành điều kiện quan trọng để hàng hóa duy trì khả năng xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050” được xem là bước đi nhằm tái cấu trúc nền nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững hơn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2026-2030 sẽ là thời điểm ngành trồng trọt tập trung xây dựng bộ tiêu chí và phát triển nhãn hiệu “nông sản phát thải thấp Việt Nam” đối với nhiều ngành hàng chủ lực như lúa gạo, cà phê, rau quả và chè. Việc hình thành các vùng nguyên liệu gắn với truy xuất nguồn gốc, dữ liệu phát thải và tiêu chuẩn xuất khẩu xanh được kỳ vọng sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho nông sản Việt.
Trong chiến lược này, cây lúa tiếp tục được xác định là ngành hàng ưu tiên. Các mô hình tưới ngập khô xen kẽ (AWD), quản lý rơm rạ, giảm lượng giống gieo sạ và tối ưu phân bón sẽ được mở rộng, đồng thời gắn với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đây được xem là hướng đi vừa giúp giảm khí nhà kính, vừa cắt giảm chi phí đầu vào cho nông dân.
Không chỉ với lúa gạo, ngành cà phê cũng đang được định hướng phát triển theo mô hình tuần hoàn. Tại Tây Nguyên và Sơn La, nhiều chương trình sẽ tập trung vào tưới tiết kiệm, sử dụng phân hữu cơ, tái sử dụng phụ phẩm và phục hồi sức khỏe đất. Một số khu vực còn được thí điểm xây dựng vùng cà phê phát thải thấp gắn với truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu bền vững.
Đối với nhóm cây ăn quả như sầu riêng, thanh long, xoài, bưởi hay chanh dây, các mô hình giảm phát thải sẽ ưu tiên quản lý nước tưới, xử lý phụ phẩm và tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ. Quá trình sản xuất cũng được gắn với mã số vùng trồng và các tiêu chuẩn xanh của thị trường nhập khẩu.
Theo định hướng của đề án, giảm phát thải lần này không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà còn gắn trực tiếp với hiệu quả kinh tế. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và nông dân về canh tác phát thải thấp, giảm chi phí đầu vào, gia tăng lợi nhuận và từng bước xây dựng thương hiệu cho nông sản xanh của Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhấn mạnh, ưu tiên hiện nay chưa phải là bán tín chỉ carbon hay tham gia sâu vào thị trường carbon quốc tế, bởi đây vẫn là lĩnh vực còn nhiều rào cản kỹ thuật và cơ chế phức tạp. Theo ông, điều quan trọng hơn là xây dựng được quy trình sản xuất mới để nông sản đáp ứng yêu cầu phát triển xanh trong tương lai.
22 địa phương nhập cuộc, đẩy nhanh mô hình sản xuất phát thải thấp
Song song với việc hoàn thiện chính sách, nhiều địa phương đã bắt đầu triển khai các mô hình sản xuất cụ thể. Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết đến nay đã có 22 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch hành động sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt. Nhiều doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và địa phương cũng đăng ký tham gia các chương trình thí điểm.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn tới là xây dựng hệ thống MRV, gồm đo đếm, báo cáo và thẩm định phát thải khí nhà kính trong sản xuất nông nghiệp. Theo kế hoạch, trong năm 2026 ngành sẽ hoàn thiện quy trình kỹ thuật và hệ thống MRV đối với cây lúa trên phạm vi toàn quốc, đồng thời triển khai cho các cây trồng chủ lực như ngô, cà phê và sầu riêng.
Theo Thứ trưởng Hoàng Trung, nếu thiếu hệ thống đo đếm chuẩn hóa thì rất khó xác nhận sản phẩm “phát thải thấp” cũng như tiếp cận các thị trường yêu cầu minh bạch dữ liệu. Vì vậy, từ nay đến năm 2030, ngành nông nghiệp sẽ xây dựng hệ thống MRV đồng bộ từ trung ương đến địa phương, chuẩn hóa phương pháp đo phát thải cho từng nhóm cây trồng và từng bước ứng dụng nền tảng số vào quản lý dữ liệu.
Nhiều địa phương hiện đã triển khai mô hình thực tế. Tại Quảng Trị, mô hình lúa giảm phát thải được áp dụng tại 13 xã với diện tích hơn 6.000 ha. Trong khi đó, Hưng Yên dự kiến triển khai 3.000 ha lúa áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ kết hợp thiết bị đo phát thải trong năm 2026. Thành phố Huế cũng đang phát triển mô hình “3 giảm 3 tăng”, quản lý nước và xử lý rơm rạ theo hướng giảm khí thải.
Ngoài việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật, ngành trồng trọt cũng tập trung thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển biochar và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp nhằm giảm lượng phát thải trong toàn chuỗi sản xuất.
Liên quan đến thị trường tín chỉ carbon, ông Nguyễn Như Cường, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, cho rằng việc tham gia thị trường tự nguyện hiện vẫn gặp nhiều khó khăn do chi phí lớn và quy trình phức tạp, trong khi sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chủ yếu quy mô nhỏ lẻ. Vì vậy, theo ông, cần tính toán kỹ hiệu quả kinh tế thay vì chạy theo xu hướng.
Dù vậy, ông Cường nhận định việc giảm phát thải vẫn mang ý nghĩa quan trọng khi góp phần thực hiện cam kết giảm phát thải quốc gia (NDC), qua đó tạo cơ sở để Nhà nước xây dựng chính sách hỗ trợ trở lại cho ngành nông nghiệp. Về dài hạn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, xây dựng bộ tiêu chí canh tác phát thải thấp, phát triển nhãn hiệu nông sản xanh và hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn gắn với chuỗi giá trị cùng hệ thống dữ liệu phát thải đồng bộ.