Truy xuất nguồn gốc nông sản cần sự hài hòa giữa chính sách với thực tiễn - Bài 1: Những sinh kế nhỏ lẻ và khoảng trống truy xuất nguồn gốc

Tại các chợ vùng cao xứ Thanh, những gùi rau rừng, măng tươi vẫn xuống núi mỗi sáng để đổi lấy vài chục nghìn đồng mưu sinh. Tuy nhiên, phía sau những giao dịch giản dị ấy là một khoảng chênh lớn khi các quy định truy xuất nguồn gốc của chuỗi sản xuất hiện đại bất ngờ “chạm” vào sinh kế tự nhiên của người dân. Giữa mục tiêu minh bạch hóa và thực tế sản xuất tự phát, không ít hộ dân đang lúng túng khi phải chứng minh nguồn gốc cho chính những sản phẩm họ hái từ rừng.
truy-suat-nguon-goc-1-1783267571.jpg
Phần lớn măng khô vùng cao được thu mua từ nhiều hộ dân nhỏ lẻ, khiến việc hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc gặp không ít trở ngại.

LTS: Truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu tất yếu trong quản lý chất lượng nông sản và phát triển thị trường minh bạch. Tuy nhiên, từ thực tiễn sản xuất nhỏ lẻ ở vùng cao, hoạt động thu mua truyền thống đến các chợ dân sinh, quá trình triển khai vẫn bộc lộ không ít khoảng cách giữa yêu cầu quản lý và điều kiện thực tế của người sản xuất, kinh doanh. Loạt bài của Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh ghi nhận những khó khăn, vướng mắc và phân tích các vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách truy xuất nguồn gốc, đồng thời đề xuất một số hướng tiếp cận nhằm hài hòa giữa mục tiêu quản lý và bảo đảm sinh kế của người dân. Trong quá trình hoàn thiện và xuất bản loạt bài, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 và được triển khai theo lộ trình. Những nội dung trong loạt bài vì vậy cũng góp thêm góc nhìn thực tiễn đối với việc đưa các quy định mới vào cuộc sống.

Sinh kế vùng cao trước bài toán truy xuất nguồn gốc

Những năm gần đây, việc tăng cường quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc nông sản được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của quản lý thị trường hiện đại. Các lực lượng chức năng như Quản lý thị trường, ngành y tế, nông nghiệp cùng chính quyền địa phương liên tục triển khai các đợt kiểm tra, nhằm kiểm soát chất lượng thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm hiện được đặt nền tảng trên Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Quyết định 100/QĐ-TTg năm 2019 về Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc, qua đó hình thành khung định hướng thống nhất cho việc xây dựng và vận hành hệ thống trên phạm vi cả nước.

Những quy định này tiếp tục được cụ thể hóa qua Thông tư 03/2011/TT-BNNPTNT về kiểm tra, chứng nhận an toàn thực phẩm; Thông tư 27/2018/TT-BNNPTNT về quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản và Thông tư 74/2022/TT-BNNPTNT về mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đã từng bước tạo thành bộ công cụ kỹ thuật phục vụ truy xuất và yêu cầu xuất khẩu nông sản.

Song song với đó, các quy định về nhãn hàng hóa tại Nghị định 43/2017/NĐ-CP yêu cầu hàng hóa lưu thông trên thị trường phải thể hiện rõ thông tin về xuất xứ và nơi sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ chế này chủ yếu vận hành hiệu quả trong các chuỗi sản xuất có tổ chức như hợp tác xã hoặc doanh nghiệp lớn, trong khi phần lớn nông sản tại các chợ dân sinh lại hình thành từ mạng lưới thu mua nhỏ lẻ, phân tán, không hợp đồng và thiếu hồ sơ truy xuất theo chuỗi.

Ghi nhận thực tế tại khu vực miền núi xứ Thanh như: Lang Chánh, Quan Sơn, Mường Lát hay Bá Thước cho thấy, phần lớn người dân đồng bào thiểu số vẫn duy trì tập quán sinh kế gắn với tự nhiên, mang tính tự cung tự cấp hoặc khai thác lâm sản phụ dưới tán rừng. Cuộc sống của họ gắn với những buổi sớm lội suối, băng rừng hái măng, rau rừng, đọt mây rồi gom lại trong ngày, theo xe khách hoặc xe máy chở xuống các chợ để bán lẻ, kiếm thêm thu nhập.

truy-suat-nguon-goc-1783267871.jfif
Những điểm bán nông sản ven đường ở vùng cao là nơi tiêu thụ các sản phẩm do người dân tự trồng hoặc khai thác từ tự nhiên, nhưng việc minh bạch nguồn gốc vẫn còn nhiều vướng mắc.

Theo phản ánh của một số tiểu thương và người dân miền núi, trong quá trình tuyên truyền, kiểm tra về an toàn thực phẩm và nguồn gốc hàng hóa tại các chợ dân sinh, nhiều người bày tỏ sự lúng túng trước yêu cầu phải giải trình hoặc cung cấp thông tin về nguồn gốc sản phẩm. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp xử lý cụ thể đối với nhóm hàng hóa khai thác tự nhiên, buôn bán nhỏ lẻ hiện vẫn cần được các cơ quan chức năng hướng dẫn rõ hơn để tránh phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện

Bà Hà Thị Dinh, 47 tuổi, trú tại thôn Tân Quang, xã Thanh Kỳ cho biết: “Tôi tự vào rừng hái ít măng bán kiếm vài bơ gạo, hoặc mua lại của bà con, dồn nhiều để chở xuống dưới xuôi bán kiếm vài đồng thì lấy đâu ra hóa đơn chứng từ để xuất trình”.

Hơn 20 năm nay, ông Lê Văn Bình (72 tuổi, bản Kéo Té, xã Nhi Sơn, Thanh Hóa) gắn bó với nghề thu mua măng, nứa và các sản vật rừng của bà con để sơ chế, đưa xuống đồng bằng tiêu thụ. Năm 2024, sản phẩm măng khô của gia đình ông được công nhận OCOP 3 sao. Tuy nhiên, khi hoạt động thu mua, vận chuyển ngày càng đặt ra yêu cầu về minh bạch nguồn gốc, việc hoàn thiện hồ sơ đối với nguồn nguyên liệu thu hái tự nhiên vẫn khiến gia đình ông gặp không ít lúng túng.

Ông Bình chia sẻ: "Tôi thu mua măng của bà con trong vùng, sau đó làm sạch, luộc, phơi khô rồi đóng gói. Nguyên liệu đều do bà con thu hái từ những khu vực được phép khai thác lâm sản phụ theo quy định. Vì nguồn hàng được gom từ nhiều hộ dân nên rất khó có đầy đủ hóa đơn, chứng từ như hàng hóa sản xuất theo quy mô doanh nghiệp."

Bà Lương Thị Tuân, Bí thư Đảng ủy xã Tam Chung, cho biết địa phương hiện có hàng trăm hộ dân tham gia thu hái măng, rau rừng và các lâm sản phụ theo tập quán lâu đời. Phần lớn sản phẩm được bán trực tiếp tại các chợ dân sinh hoặc thông qua thương lái nhỏ lẻ nên việc hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc theo chuỗi vẫn còn nhiều khó khăn.

“Người dân hoàn toàn ủng hộ chủ trương bảo đảm an toàn thực phẩm và minh bạch nguồn gốc hàng hóa. Tuy nhiên, đối với nhóm sản phẩm khai thác tự nhiên phục vụ sinh kế, cần có hướng dẫn cụ thể và lộ trình phù hợp để người dân từng bước thích ứng”, bà Tuân nói.

Việc áp dụng cùng một khung quản lý đối với các sản phẩm sinh kế tự nhiên và nông sản canh tác quy mô lớn đã bộc lộ khoảng cách đáng kể giữa quy định và thực tiễn. Một quy định pháp luật dù có mục tiêu đúng đắn đến đâu, nếu không tính đến đặc thù của từng nhóm đối tượng chịu tác động, khi đi vào đời sống rất dễ tạo ra áp lực lớn đối với những người lao động nhỏ lẻ, vốn đang sống chủ yếu dựa vào hoạt động mưu sinh tự nhiên.

Khi nông sản truyền thống bước vào yêu cầu truy xuất nguồn gốc

Từ những gùi rau rừng ở miền núi đến những chuyến xe hàng đêm về chợ đầu mối, chuỗi nông sản vẫn vận hành liên tục, nhưng lại đi qua hai hệ quy chiếu hoàn toàn khác nhau.

truy-suat-nguon-goc-3-1783267942.jpg
Nông sản được tập kết, bốc dỡ tại chợ đầu mối Đông Hương trong đêm. Phần lớn hàng hóa được thu mua từ nhiều hộ sản xuất nhỏ lẻ, khiến việc truy xuất nguồn gốc còn gặp không ít khó khăn.

Trong khoảng thời gian từ nửa đêm đến rạng sáng, tại chợ đầu mối Đông Hương (phường Hạc Thành), hàng chục xe tải bắt đầu dồn về khu vực tập kết. Rau, củ, quả từ các khu vực lân cận như Quảng Xương, Thiệu Hóa, Đông Sơn được bốc dỡ, cân đo và phân loại ngay trong ánh đèn của khu chợ đêm. Giao dịch ở đây chủ yếu vẫn dựa trên phương thức truyền thống: ghi chép thủ công, cân đo và thỏa thuận miệng, chưa được chuẩn hóa thành hệ thống dữ liệu điện tử.

Theo số liệu của Sở Công Thương tỉnh Thanh Hóa, hệ thống chợ truyền thống và chợ dân sinh hiện vẫn đảm nhiệm hơn 80% nhu cầu cung ứng nông sản, thực phẩm tươi sống cho người dân trên địa bàn tỉnh. Trong số hơn 380 chợ đang hoạt động, phần lớn nông sản lưu thông tại các chợ đầu mối vẫn được thu mua từ các hộ sản xuất nhỏ lẻ thông qua mạng lưới thương lái truyền thống. Việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hóa đơn, chứng từ, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc đối với nhóm hàng hóa này vẫn còn nhiều khó khăn.

Chính trong dòng chảy hàng trăm tấn nông sản mỗi đêm đó, việc truy xuất nguồn gốc gần như phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm và sự quen biết giữa thương lái và người sản xuất. Tuy nhiên, trong bối cảnh các yêu cầu về hóa đơn, chứng từ và truy xuất nguồn gốc ngày càng được siết chặt trong hoạt động thương mại, mô hình giao dịch dựa trên niềm tin và ghi chép thủ công bắt đầu bộc lộ những áp lực nhất định khi đi vào thực thi.

Những diễn biến này đã được ghi nhận tại một số chợ truyền thống, khi xuất hiện tình trạng tiểu thương tạm ngừng kinh doanh hoặc đóng cửa kiot để nghe ngóng tình hình trước các đợt kiểm tra, giám sát liên quan đến hóa đơn, chứng từ và yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Một xe hàng lớn của thương lái thường được gom từ hàng chục, thậm chí hàng trăm hộ sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ chỉ cung cấp vài bó rau hoặc vài cân nông sản. Theo quy định về quản lý hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế và thương mại, người bán có thể lập bảng kê đối với hàng hóa mua từ hộ sản xuất trực tiếp không có hóa đơn.

truy-suat-nguon-goc-4-1783268033.jpg
Không ít loại rau, củ, quả không rõ nguồn gốc sau khi qua khâu thu gom, đóng gói đã được gắn mác hàng địa phương hoặc hàng đạt tiêu chuẩn để đưa ra thị trường.

Tuy nhiên, việc yêu cầu tiểu thương phải hoàn thiện đầy đủ hồ sơ, chứng từ và đối chiếu nguồn gốc đối với các lô hàng được thu mua từ hàng chục, thậm chí hàng trăm hộ sản xuất nhỏ lẻ là thách thức không nhỏ trong điều kiện giao dịch diễn ra chủ yếu vào ban đêm. Nhiều hộ nông dân chưa có mã số vùng trồng, diện tích canh tác manh mún, ít liên kết chuỗi và chưa tiếp cận các tiêu chuẩn chứng nhận sản xuất an toàn.

Sự chênh lệch giữa yêu cầu quản lý theo hướng số hóa, chuẩn hóa chuỗi cung ứng và thực trạng sản xuất phân tán đã khiến chợ truyền thống trở thành điểm dễ phát sinh vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách.

Thực tế tại một số chợ đầu mối cho thấy, khi các đợt kiểm tra về hóa đơn, chứng từ và nguồn gốc hàng hóa được triển khai, không ít tiểu thương bày tỏ lo ngại trước khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ đối với những lô hàng được thu mua từ nhiều hộ dân nhỏ lẻ. Trong khi đó, đối với nhóm sản phẩm khai thác tự nhiên hoặc nông sản lưu thông theo phương thức truyền thống, việc hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc vẫn còn nhiều khó khăn do đặc thù sản xuất và thu mua phân tán.

Mục tiêu của cơ quan quản lý là bảo đảm an toàn thực phẩm và minh bạch hóa thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh chưa có sự phân tầng đối tượng và cơ chế tuân thủ phù hợp, việc triển khai các yêu cầu quản lý theo cùng một chuẩn chung có thể tạo ra áp lực nhất định đối với hoạt động kinh doanh của tiểu thương cũng như sinh kế của một bộ phận người dân.

Truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại và xu thế chung của thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở mục tiêu minh bạch hóa nguồn gốc hàng hóa mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng với thực tiễn sản xuất và lưu thông nông sản ở từng địa phương.

Đối với nhiều hộ dân vùng cao và tiểu thương nhỏ lẻ, một gánh rau rừng hay một bao măng khô không đơn thuần là hàng hóa mà còn là nguồn thu nhập phục vụ cuộc sống hằng ngày. Trong bối cảnh phần lớn hoạt động sản xuất, thu mua vẫn diễn ra theo quy mô nhỏ lẻ, phân tán, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc cần có lộ trình thực hiện và cơ chế phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Chỉ khi hài hòa được giữa yêu cầu quản lý và thực tiễn sản xuất, kinh doanh, mục tiêu truy xuất nguồn gốc mới có thể được triển khai hiệu quả, đồng thời bảo đảm hoạt động lưu thông nông sản và sinh kế của người dân không bị ảnh hưởng ngoài mong muốn.

Bài 2: Những khoảng mờ sau mác "rau sạch"

Đăng ký đặt báo