Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Đơn giản hóa quy trình, nâng cao trách nhiệm giám sát

Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường hướng tới cắt giảm hơn 90% số dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và xin giấy phép môi trường, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phân cấp quản lý và phát triển kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, cải cách thủ tục cần đi đôi với quản lý dựa trên rủi ro, tải lượng chất ô nhiễm và sức chịu tải thực tế của môi trường.
luat-bao-ve-moi-truong-1791889202.webp
Hơn 90% dự án có thể giảm yêu cầu về thủ tục môi trường.

Cải cách thủ tục, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm

Sau hơn 5 năm thực thi, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo nền tảng cho nhiều chính sách quản lý môi trường, từ giấy phép môi trường, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đến phát triển thị trường carbon. Dù vậy, những yêu cầu mới về tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm vừa tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, vừa nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm.

Theo hồ sơ được trình Quốc hội thẩm tra sơ bộ vào tháng 9/2026, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn. Trước đó, đến ngày 28/8, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp nhận 114 văn bản với gần 700 ý kiến góp ý. Dự án luật dự kiến được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai vào tháng 10/2026.

Ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết một trong những trọng tâm của dự thảo là cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Phương án đề xuất bãi bỏ 9 thủ tục hành chính, gồm 7 thủ tục thuộc thẩm quyền cấp bộ và 2 thủ tục thuộc thẩm quyền cấp tỉnh. Nếu được thông qua và triển khai theo đề xuất, thời gian giải quyết thủ tục có thể giảm hơn 52%, trong khi chi phí tuân thủ tiết kiệm trên 52%.

Đáng chú ý, phương án điều chỉnh phân loại dự án theo tiêu chí môi trường từ 4 nhóm xuống còn 3 nhóm được kỳ vọng giúp cắt giảm trên 90% số dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và xin giấy phép môi trường. Cơ chế một cửa liên thông cũng được đề xuất để phối hợp xử lý thủ tục môi trường với thủ tục đầu tư, xây dựng, hạn chế tình trạng các khâu phải chờ đợi tuần tự làm kéo dài tiến độ dự án.

Dự thảo đồng thời thúc đẩy phân cấp, phân quyền, theo đó địa phương dự kiến thực hiện 96% hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM và 95% hoạt động cấp giấy phép môi trường. Cùng với việc tăng quyền chủ động, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh khi để xảy ra ô nhiễm trên địa bàn cũng được đặt ra rõ hơn, đòi hỏi địa phương nâng cao năng lực chuyên môn, nhân lực và khả năng giám sát.

Đánh giá về định hướng này, TS. Trịnh Xuân Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam, cho rằng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường phân cấp và ứng dụng dữ liệu trong quản trị môi trường là cần thiết. Tuy nhiên, cải cách phải bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, khả thi và có cơ sở khoa học.

Theo ông, việc phân loại dự án không nên chỉ dựa vào loại hình, quy mô, công suất hay lưu lượng xả thải mà cần phản ánh đúng mức độ nguy hại của từng hoạt động. Hai dự án có cùng công suất nhưng khác biệt về công nghệ, hóa chất sử dụng và chất ô nhiễm phát sinh có thể tạo ra những rủi ro môi trường hoàn toàn khác nhau.

Vì vậy, các tiêu chí đánh giá cần tính đến nồng độ, tải lượng chất ô nhiễm, nguy cơ xảy ra sự cố, khả năng lan truyền và tích lũy chất độc hại, tác động liên vùng, xuyên biên giới cũng như sức chịu tải của môi trường tiếp nhận. Đây là cơ sở để giảm những thủ tục không cần thiết mà vẫn duy trì được các yêu cầu bảo vệ môi trường tương xứng với rủi ro.

TS. Trịnh Xuân Đức cũng đề xuất cho phép chủ đầu tư nộp và thẩm định hồ sơ ĐTM đồng thời với quá trình phê duyệt quy hoạch chi tiết, thay vì phải chờ quy hoạch hoàn tất mới bắt đầu thủ tục môi trường. Tuy nhiên, kết quả thẩm định ĐTM chỉ được ban hành sau khi quy hoạch chi tiết được phê duyệt. Nếu quy hoạch thay đổi theo hướng làm gia tăng tác động tiêu cực, chủ dự án phải cập nhật, bổ sung hoặc thực hiện lại ĐTM.

Cách tổ chức này có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư nhưng vẫn giữ được điều kiện kiểm soát cần thiết. Theo tinh thần đó, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ thấp tiêu chuẩn môi trường, mà cần đi cùng cơ chế hậu kiểm đủ mạnh và trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Số hóa quản lý, bảo đảm sức chịu tải của môi trường

phat-sinh-chat-thai-1791889390.jpg
Các cơ sở phát sinh chất thải cập nhật dữ liệu điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát và truy xuất nguồn thải.

Bên cạnh cải cách hành chính, dự thảo hướng tới xây dựng hệ thống quản lý chất thải thống nhất trên nền tảng số. Các cơ sở phát sinh chất thải sẽ cập nhật dữ liệu điện tử thường xuyên, tạo điều kiện theo dõi dòng chất thải và từng bước hình thành hệ thống đăng ký phát thải, chuyển giao chất ô nhiễm trên môi trường số.

Ông Tăng Thế Cường cho rằng dữ liệu số, nếu được vận hành hiệu quả, có thể giúp cơ quan quản lý phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, hạn chế tình trạng báo cáo thiếu chính xác và nâng cao khả năng truy xuất trách nhiệm. Tuy nhiên, hệ thống phải bảo đảm dữ liệu đầy đủ, đồng bộ, có thể kiểm chứng và kết nối giữa các cơ quan liên quan.

Dự thảo cũng bổ sung quy định về quản lý vật liệu, sản phẩm tái chế và sản phẩm thu hồi từ chất thải, tạo nền tảng phát triển thị trường nguyên liệu thứ cấp. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế EPR, Chính phủ dự kiến xây dựng lộ trình áp dụng tỷ lệ vật liệu tái chế bắt buộc trong sản xuất và bổ sung các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với kinh tế tuần hoàn.

Đối với chất thải rắn sinh hoạt, việc trao quyền cho UBND cấp tỉnh quyết định hình thức phân loại phù hợp với điều kiện thực tế được kỳ vọng tăng tính chủ động trong tổ chức thu gom, xử lý. Song, để tránh thiếu thống nhất giữa các địa phương, cơ chế thực hiện cần có hướng dẫn rõ ràng, dễ áp dụng đối với người dân và doanh nghiệp.

Trong kiểm soát ô nhiễm, các nội dung về dự báo chất lượng không khí, kiểm kê khí thải và bụi, phát thải từ giao thông, chất lượng đất và khả năng chịu tải của môi trường nước mặt cũng được điều chỉnh. Định hướng chung là tăng cường dự báo, phòng ngừa thay vì chỉ xử lý khi ô nhiễm đã phát sinh.

Về vấn đề này, TS. Trịnh Xuân Đức đặc biệt lưu ý cách quy định đối với hoạt động xả thải vào nguồn nước mặt. Theo ông, nếu nguồn nước không còn khả năng tiếp nhận thêm một chất ô nhiễm nhất định, việc vẫn cho phép gia tăng tải lượng của chính chất đó có thể khiến chất lượng môi trường tiếp tục suy giảm.

Ông đề xuất quy định theo hướng: "Không được làm suy giảm chất lượng nguồn nước hoặc làm gia tăng tải lượng đối với thông số môi trường mà nguồn nước không còn khả năng chịu tải". Việc đánh giá cần xem xét riêng từng thông số ô nhiễm, đồng thời căn cứ vào lưu lượng, nồng độ, tải lượng tích lũy, các nguồn thải đã được cấp phép, điều kiện mùa kiệt và hệ số an toàn môi trường.

Ngoài ra, TS. Trịnh Xuân Đức cho rằng dự thảo cần chuẩn hóa những khái niệm kỹ thuật để hạn chế cách hiểu khác nhau trong quá trình thực thi. Chẳng hạn, cần phân biệt rõ lưu lượng nước thải, khí thải phát sinh phải xử lý với lưu lượng thực tế xả ra môi trường, bởi hai thông số này phục vụ những mục đích quản lý khác nhau.

Đối với tín chỉ carbon, ông đề xuất xác định rõ đây là chứng nhận đại diện cho 1 tCO2e của kết quả giảm hoặc tránh phát thải, tăng cường hấp thụ hoặc loại bỏ khí nhà kính, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận, đăng ký và có thể trao đổi, chuyển nhượng hoặc sử dụng theo quy định pháp luật. Việc chuẩn hóa khái niệm và yêu cầu đăng ký cũng góp phần tăng khả năng truy xuất, hạn chế nguy cơ tính trùng tín chỉ.

Cùng với đó, dự thảo định hướng rút ngắn chu kỳ kiểm kê khí nhà kính xuống hằng năm, thực hiện trực tuyến, hoàn thiện cơ chế trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon. Các chính sách khuyến khích thu hồi, tái chế môi chất lạnh và ưu đãi đầu tư, thuế cho công nghệ, thiết bị môi trường sản xuất trong nước cũng được kỳ vọng thúc đẩy đổi mới công nghệ.

Theo TS. Trịnh Xuân Đức, nguyên tắc xuyên suốt khi sửa đổi luật là giảm chi phí tuân thủ nhưng không làm suy giảm chuẩn mực bảo vệ môi trường. Việc phân cấp phải gắn với trách nhiệm của người đứng đầu; giảm tiền kiểm phải đi cùng phương pháp kỹ thuật và cơ chế hậu kiểm hiệu quả; quản lý nguồn thải cần dựa trên dữ liệu, rủi ro và sức chịu tải thực tế.

Trong khi đó, ông Tăng Thế Cường đánh giá việc sửa đổi luật sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý bằng công nghệ số và các công cụ kinh tế hiện đại, tạo động lực cho tăng trưởng xanh.

Đăng ký đặt báo