
Tại căn nhà số 33 đường Đội Cung, phường Hạc Thành, Thanh Hóa, Anh hùng Lao động Lê Văn Tam chậm rãi nhắc lại những ngày đầu về Nhà máy Đường Lam Sơn. Gần bốn thập niên đã qua, câu chuyện ông nhớ nhất vẫn là quãng thời gian nhà máy đứng trước nguy cơ không thể tiếp tục hoạt động, còn người trồng mía ở vùng nguyên liệu chưa tìm thấy lý do đủ thuyết phục để gắn bó với cây trồng này.

Nhà máy được xây dựng từ đầu những năm 1980 với kỳ vọng hình thành cơ sở chế biến đường gắn với vùng nguyên liệu tại địa phương. Thế nhưng, từ xây dựng đến vận hành là một chặng đường không dễ dàng. Việc lắp đặt, hoàn thiện thiết bị gặp trục trặc; các chuyên gia nước ngoài rời đi khi một số công việc kỹ thuật chưa hoàn tất. Máy móc hoạt động thiếu ổn định, nguyên liệu không đủ, công nhân có lúc thiếu việc làm. Phương án chuyển nhà máy đi nơi khác, thậm chí thanh lý, từng được đặt ra.
Năm 1988, ông Lê Văn Tam, khi ấy là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp, được điều động về làm giám đốc nhà máy. Từ công việc quản lý ngành nông nghiệp sang điều hành một cơ sở sản xuất đang chật vật tìm đường tồn tại, ông phải đối diện cùng lúc nhiều vấn đề: thiết bị cần khắc phục, sản xuất chưa ổn định, vùng nguyên liệu chưa đáp ứng yêu cầu. Tỉnh giao ông ba năm để đưa nhà máy đi vào hoạt động.

“Khi nhận nhiệm vụ, Tỉnh ủy giao phải giữ bằng được nhà máy, phải tìm mọi cách để nhà máy sống được, đi vào sản xuất. Nếu không làm được thì sẽ bị kỷ luật, cách chức. Lúc ấy, tôi biết trách nhiệm của mình rất nặng nề, nhưng đã nhận nhiệm vụ thì phải tìm cách làm cho bằng được”, ông Tam nhớ lại.
Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, trước hết phải khôi phục hoạt động của nhà máy. Cán bộ, công nhân cùng đội ngũ kỹ thuật tìm cách tháo gỡ từng vướng mắc; các giảng viên Trường Đại học Bách khoa cũng tham gia hỗ trợ xử lý những vấn đề về thiết bị. Công việc dần được khơi thông, nhưng một nhà máy có thể vận hành vẫn chưa đồng nghĩa với việc có thể sản xuất ổn định. Dây chuyền cần nguyên liệu, mà nguồn mía khi ấy chưa đủ đáp ứng.

Bài toán vì thế không nằm trọn trong khuôn viên nhà máy. Muốn có mía, phải tìm được đất trồng, tính được sản lượng và tổ chức vùng nguyên liệu. Nhưng đất đai dù có thể khai hoang, người dân cũng không thể gắn bó lâu dài với cây mía nếu thu nhập không bảo đảm. Ông Tam hiểu rằng muốn cứu nhà máy, phải tìm cách tháo gỡ cả khó khăn của người trồng mía.

Những chuyến đi về phía tây Thanh Hóa bắt đầu từ yêu cầu ấy. Chiếc U-oát chở ông Tam cùng người lái xe qua nhiều vùng đất, đến gặp các hộ nông dân, khảo sát diện tích có thể trồng mía. Ông cùng cán bộ nhà máy kiểm tra đất đai, thống kê diện tích, tính sản lượng dự kiến trên từng khu đất để xác định khả năng hình thành vùng nguyên liệu.

Không thể chỉ nhìn bản đồ hay ngồi trong phòng làm việc để quyết định. Phải xuống tận nơi mới biết diện tích nào có thể đưa vào canh tác, đất đai ra sao, người dân có thể trồng được bao nhiêu và sản lượng dự kiến có đáp ứng nhu cầu của nhà máy hay không. Những chuyến đi ấy đưa vị giám đốc đến gần hơn với vùng nguyên liệu, nhưng cũng giúp ông nhìn thấy một thực tế khác: người dân đã bỏ công khai hoang, trồng mía mà cuộc sống vẫn khó khăn.
Ông Bùi Văn Ngọ, 71 tuổi, ở Kiên Thọ, còn nhớ những năm tháng ấy. Khi đó, nhiều hộ nghe theo chủ trương, khai khẩn đất hoang để trồng mía, mong có thêm nguồn thu. Nhưng mùa vụ không phải lúc nào cũng thuận lợi, còn việc thu mua và giá cả khiến người trồng mía nhiều phen thất vọng.

“Lúc đói nghèo, nghe theo chủ trương, chúng tôi đã khai khẩn đất hoang trồng mía, nhưng tính ra thu nhập chẳng bao. Năm được mùa thì nhà máy thu mua ít, năm không được mùa thì giá cả lại thấp... nên chúng tôi muốn phá bỏ”, ông Ngọ kể.
Đằng sau ý định phá bỏ cây mía là sự sốt ruột của những người đã bỏ công sức, đất đai mà chưa thu được kết quả tương xứng. Với họ, giữ lại cây mía hay chuyển sang cây trồng khác không phải chuyện của riêng nhà máy. Đó là quyết định liên quan trực tiếp đến thu nhập và cuộc sống gia đình.
Theo lời ông Ngọ, trong lúc bà con bất mãn, có người tính chuyện bỏ mía, ông Tam vẫn xuống tận đồng gặp gỡ, động viên người dân. Ông đưa ra một lời hẹn gắn với trách nhiệm của chính mình: bà con hãy cho ông ba năm; nếu không làm được, ông sẽ trở về xin lỗi bà con và chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy.
Ông Tam cũng cam kết sẽ tìm cách để cả người trồng mía lẫn công nhân nhà máy có cuộc sống no đủ, đồng thời chứng minh cây mía có thể đem lại thu nhập cao hơn những cây trồng khác. Lời hẹn ấy được đưa ra giữa lúc niềm tin của người dân chưa vững. Muốn bà con tiếp tục trồng mía, nhà máy phải có khả năng sản xuất và thu mua; muốn nhà máy hoạt động, vùng nguyên liệu phải được duy trì. Hai phía đều cần một lời giải cho bài toán sinh kế của mình.

Trong chưa đầy ba năm kể từ khi nhận nhiệm vụ, Nhà máy Đường Lam Sơn đã làm ra những mẻ đường đầu tiên. Đó là kết quả của quá trình khắc phục khó khăn về thiết bị, sự chung sức của cán bộ, công nhân, đội ngũ kỹ thuật, sự chỉ đạo của địa phương và sự tham gia của người trồng mía. Những chuyến đi thực địa, việc nắm lại diện tích và sản lượng, cùng quá trình vận động người dân tiếp tục sản xuất đã góp phần tháo gỡ nút thắt nguyên liệu, tạo điều kiện để nhà máy từng bước ổn định hoạt động.
Khi nhà máy có thể sản xuất, vùng nguyên liệu cũng dần được mở rộng. Cây mía từ những diện tích khai hoang trở thành nguồn thu của nhiều hộ dân ở phía tây Thanh Hóa. Với người trồng mía, điều quan trọng không chỉ là có đất canh tác mà còn là có nơi tiêu thụ sản phẩm. Với nhà máy, nguồn nguyên liệu ổn định là điều kiện để duy trì dây chuyền sản xuất. Sự gắn kết giữa hai phía từ đó có cơ sở để hình thành và phát triển.

Tại thôn Tiến Sơn, xã Thường Xuân, ông Nguyễn Văn Phương, 79 tuổi, vẫn nhớ thời cây mía đem lại nguồn thu đáng kể cho người dân địa phương. Trước kia, cuộc sống ở vùng này còn nhiều thiếu thốn, người dân chủ yếu làm nương, làm rẫy. Khi cây mía phát triển, thu nhập của nhiều gia đình được cải thiện, diện mạo thôn xóm cũng dần thay đổi.
“Ngày trước, dân ở vùng này nghèo lắm, chỉ quanh quẩn làm nương, làm rẫy, ăn không đủ no. Nhưng nhờ trồng mía, cuộc sống của bà con dần khá lên. Nhiều nhà có của ăn của để, sắm được tivi, xe máy, sửa sang nhà cửa. Những khoảng đất trống, đồi trọc rồi cũng được phủ xanh bởi cây mía. Có thời điểm, gia đình tôi trồng tới 12 ha mía”, ông Phương kể.

Từ những đổi thay trong từng gia đình đến sự phát triển của vùng nguyên liệu, cây mía đã để lại dấu ấn rõ nét trong đời sống nhiều vùng quê. Đất được đưa vào sản xuất, người dân có thêm nguồn thu, nhà máy có nguyên liệu để chế biến. Một mắt xích được tháo gỡ đã tạo điều kiện cho những mắt xích còn lại vận hành, giúp vùng mía Lam Sơn trải qua một thời kỳ phát triển.
Nhắc lại quãng thời gian ấy, ông Tam nói: “Chỉ cần mình lo cho dân đủ ăn, chân thành với dân, thì dân sẽ không bao giờ phụ nhà máy”.
Câu nói ngắn gọn cũng là điều ông rút ra từ những năm tháng đi tìm nguồn nguyên liệu. Người dân không thể gắn bó với nhà máy chỉ bằng lời vận động; họ cần thấy công sức bỏ ra được đền đáp. Khi cây mía đem lại thu nhập, vùng nguyên liệu có cơ sở để duy trì, còn nhà máy mới có điều kiện phát triển. Sự tin cậy được gây dựng từ những lợi ích cụ thể ấy.
Gần bốn thập niên sau ngày ông Tam nhận nhiệm vụ, cây mía không còn ở thời hoàng kim. Vùng nguyên liệu Lam Sơn đứng trước yêu cầu tìm hướng đi mới trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh tế, chi phí đầu vào và yêu cầu giảm phát thải. Những mô hình canh tác giảm phát thải, hướng tới tạo tín chỉ carbon đang mở ra một hướng tiếp cận mới, nhưng hiệu quả vẫn cần được kiểm chứng bằng thực tế sản xuất, nhất là khả năng nâng thu nhập cho người trồng mía.
Ngày trước, chiếc U-oát đưa ông Tam đến từng thửa đất để tìm nguồn mía cho nhà máy, cũng là để giữ người dân ở lại với cây mía bằng một cuộc sống đủ đầy hơn. Gần bốn thập niên đã qua, vùng nguyên liệu Lam Sơn lại đứng trước yêu cầu đổi mới. Muốn cây mía tiếp tục có chỗ đứng, điều quan trọng vẫn là nâng cao giá trị sản xuất, để người trồng mía có thu nhập xứng đáng với công sức bỏ ra và yên tâm gắn bó với đồng đất quê mình.
Hà Khải