
Ngày 12/2/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó dành một chương quan trọng quy định cụ thể các chính sách áp dụng đối với người lao động khi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa. Những quy định này không chỉ mở rộng cơ hội sở hữu cổ phần cho người lao động mà còn đặt ra cơ chế ràng buộc nhằm giữ chân nhân sự, đồng thời bảo đảm quyền lợi cho các trường hợp dôi dư.
Theo Nghị định, người lao động và người quản lý đang làm việc tại doanh nghiệp cổ phần hóa ở thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được quyền mua cổ phần với mức giá ưu đãi. Nhóm đối tượng này bao gồm cả những người đã được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại đơn vị khác nhưng chưa từng hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi trước đó, cũng như người lao động và người quản lý tại doanh nghiệp cấp II (nếu chưa được hưởng ưu đãi ở nơi khác) khi doanh nghiệp cấp I tiến hành cổ phần hóa.
Mức ưu đãi được xác định khá cụ thể: mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần, với giá bán bằng 60% mệnh giá, tương đương 6.000 đồng cho mỗi cổ phần mệnh giá 10.000 đồng. Chính sách này cũng áp dụng đối với người đại diện hộ gia đình nhận khoán tại các công ty nông, lâm nghiệp khi chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần. Mỗi hộ gia đình được cử một người đại diện và được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế nhận khoán ổn định, với mức giá ưu đãi tương tự.
Đáng chú ý, toàn bộ số cổ phần mua theo diện ưu đãi bắt buộc phải nắm giữ trong thời hạn 3 năm kể từ ngày hoàn tất thanh toán, không được chuyển nhượng trong thời gian này. Quy định nhằm tránh tình trạng đầu cơ, đồng thời khuyến khích người lao động gắn bó với doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Bên cạnh chính sách ưu đãi chung, Nghị định số 57/2026/NĐ-CP còn thiết kế cơ chế mua thêm cổ phần dành cho những nhân sự được doanh nghiệp xác định là cần tiếp tục sử dụng và có cam kết làm việc tối thiểu 3 năm kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Theo đó, người lao động và người quản lý thuộc diện này được mua thêm 200 cổ phần cho mỗi năm cam kết làm việc tiếp, nhưng tổng số không vượt quá 2.000 cổ phần/người.
Riêng đối với các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn cao, mức mua thêm được nâng lên 500 cổ phần cho mỗi năm cam kết, tối đa 5.000 cổ phần/người. Doanh nghiệp căn cứ đặc thù ngành nghề để xây dựng tiêu chí xác định chuyên gia, và các tiêu chí này phải được Hội nghị người lao động thông qua trước khi tiến hành cổ phần hóa. Giá bán số cổ phần mua thêm là giá khởi điểm do cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa; sau khi hết thời hạn cam kết, số cổ phần này được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Trong trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đã cam kết, họ buộc phải bán lại toàn bộ số cổ phần mua thêm cho công ty cổ phần. Giá mua lại được xác định sát với giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm đó, song không vượt quá mức giá đã mua khi cổ phần hóa.
Với những trường hợp không thể tiếp tục bố trí việc làm sau cổ phần hóa, Nghị định cũng quy định rõ phương án xử lý. Người lao động làm việc theo hợp đồng tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, kể cả những người đang làm đại diện phần vốn tại đơn vị khác, nếu không được sắp xếp việc làm theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách dành cho lao động dôi dư theo quy định pháp luật.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, việc bố trí công việc do cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định. Nếu đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không sắp xếp được việc làm, họ được giải quyết chế độ tương tự chính sách tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức. Trường hợp người quản lý tại doanh nghiệp cấp II, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch doanh nghiệp nhà nước sẽ chịu trách nhiệm xem xét bố trí; nếu không thể sắp xếp, chế độ được giải quyết theo pháp luật lao động hiện hành.