Cụ thể, mức lương tối thiểu vùng I tăng lên 5.310.000 đồng/tháng, tăng 350.000 đồng so với hiện hành; vùng II đạt 4.730.000 đồng/tháng, tăng 320.000 đồng; vùng III là 4.140.000 đồng/tháng, tăng 280.000 đồng; và vùng IV tăng lên 3.700.000 đồng/tháng, cao hơn 250.000 đồng.
Do tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, việc điều chỉnh tăng “mức sàn” này đồng nghĩa với việc mức đóng bảo hiểm xã hội và mức hưởng các chế độ của người lao động cũng sẽ tăng tương ứng.

Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm là chế độ thai sản. Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, lao động nữ sinh con được hưởng trợ cấp bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ sinh, nhân với 6 tháng nghỉ theo quy định.
Đối với lao động nam có vợ sinh con, mức hưởng được tính bằng bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng trước khi nghỉ, chia cho 24 ngày và nhân với số ngày nghỉ thực tế theo chế độ. Khi tiền lương đóng bảo hiểm xã hội được nâng lên theo mức lương tối thiểu vùng mới, khoản trợ cấp thai sản thực tế mà cả lao động nam và lao động nữ nhận được cũng sẽ tăng lên rõ rệt so với giai đoạn trước.
Không chỉ chế độ thai sản, trợ cấp thất nghiệp cũng chịu tác động trực tiếp từ việc tăng lương tối thiểu. Luật Việc làm năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, tiếp tục khẳng định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi thất nghiệp.
Tuy nhiên, mức hưởng này được khống chế tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng. Do đó, khi lương tối thiểu vùng tăng từ năm 2026, trần hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động cũng sẽ được nới rộng, tạo thêm dư địa bảo đảm thu nhập trong thời gian không có việc làm. Bên cạnh đó, theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH, tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa vẫn không vượt quá 20 tháng lương tối thiểu vùng, nhằm bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm trong bối cảnh mặt bằng thu nhập cơ bản được nâng lên.
Quyền lợi của người lao động trong các tình huống rủi ro tại nơi làm việc cũng được cải thiện theo hướng tích cực. Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, trong trường hợp phải ngừng việc do lỗi của người khác hoặc do các nguyên nhân khách quan như mất điện, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, người lao động vẫn được trả lương.
Cụ thể, nếu ngừng việc do lỗi của người lao động khác, tiền lương ngừng việc không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Trường hợp ngừng việc do các nguyên nhân khách quan, trong 14 ngày đầu, người lao động cũng được trả lương ít nhất bằng mức lương tối thiểu vùng. Khi mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng từ năm 2026, mức lương ngừng việc tối thiểu mà người lao động được hưởng cũng sẽ tự động tăng theo, góp phần giúp người lao động ổn định cuộc sống khi gặp những sự cố ngoài ý muốn.