Mở đường cho những “kỳ lân” công nghiệp văn hóa Việt Nam

Việt Nam không thiếu di sản, nghệ sĩ, câu chuyện hay khán giả. Điều còn thiếu là những doanh nghiệp đủ năng lực biến nguồn tài nguyên ấy thành tài sản trí tuệ (IP), đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế và tiếp tục tái đầu tư vào những thế hệ sáng tạo mới.
ky-lan-van-hoa-1792836917.png
Ảnh minh họa.

Khi mục tiêu xây dựng các tập đoàn công nghiệp văn hóa tầm cỡ quốc tế đã được đặt ra trong Nghị quyết 80-NQ/TW, câu hỏi về những “kỳ lân văn hóa” không còn hoàn toàn là một viễn cảnh xa xôi.

Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý trong cách đặt văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước. Một trong những mục tiêu cụ thể tới năm 2030 là xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên công nghệ cao và những mô hình kinh doanh đổi mới.

Nói cách khác, văn hóa không chỉ được nhìn như nền tảng tinh thần cần gìn giữ, mà còn là nguồn lực cần được tổ chức thành sản phẩm, thị trường và những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh.

Tư duy đó tiếp tục được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80, và sau đó là Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đặt ra cơ chế thí điểm Quỹ Văn hóa, Nghệ thuật theo hướng hợp tác công - tư, chấp nhận rủi ro đầu tư.

Trước đó, Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, đặt mục tiêu các ngành này đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045.

Vấn đề của Việt Nam không chỉ là nâng con số này thêm vài điểm phần trăm qua các năm, thách thức lớn hơn là tạo ra những doanh nghiệp đủ sức đứng ở trung tâm của một chuỗi giá trị, nơi một IP có thể đi từ ý tưởng sang phim ảnh, âm nhạc, game, sự kiện, merchandise, du lịch và thị trường quốc tế.

Từ tài nguyên văn hóa tới tài sản có thể sinh lời

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có nền công nghiệp văn hóa mạnh nào chỉ dựa vào nghệ sĩ nổi tiếng hay vài tác phẩm thành công. Đằng sau K-pop (Hàn Quốc) là các tập đoàn giải trí có năng lực đầu tư, đào tạo nghệ sĩ, sở hữu IP, xây dựng fandom và phân phối sản phẩm toàn cầu. Hay Anime Nhật Bản, phía sau là cả một hệ sinh thái gồm nhà xuất bản, hãng phim, trò chơi, đồ chơi và bản quyền.

Hiện ngành văn hóa và sáng tạo đóng góp khoảng 3% GDP toàn cầu và tạo hơn 30 triệu việc làm. Tại Hàn Quốc, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa đã được tổ chức thành chiến lược xuất khẩu từ cuối những năm 1990.

Tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, tổ chức mới đây (ngày 10/10/2026), GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng yêu cầu hiện nay không chỉ là nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực nội sinh mà phải biết cách “kích hoạt” nguồn vốn đang ở dạng tiềm năng để biến tiềm năng thành động năng phát triển kinh tế - xã hội.

hoang-anh-tuan-1-1792836930.png

Việt Nam có hàng nghìn di sản, một thị trường hơn 100 triệu dân, tỷ lệ sử dụng Internet cao và một thế hệ trẻ tiêu dùng nội dung mạnh. Nhưng nếu tài nguyên ấy chỉ tồn tại dưới dạng nguyên liệu thô, giá trị kinh tế giữ lại sẽ thấp.

Một di sản được tham quan một lần khác hoàn toàn một IP được phát triển thành phim, game, sách, quà lưu niệm, show diễn và điểm đến du lịch. Một bài hát có doanh thu nghe trực tuyến khác với một nghệ sĩ sở hữu lượng người hâm mộ (fandom) đủ mạnh để bán vé, kéo theo các dịch vụ, thậm chí là hút khách du lịch quốc tế.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, khi trao đổi về công nghiệp văn hóa đã nhấn mạnh rằng giá trị lớn nhất nằm ở việc ai sở hữu ý tưởng gốc, ai nắm quyền khai thác và ai đủ khả năng phát triển tài sản trí tuệ thành cả một hệ sinh thái.

Đây có lẽ là điểm mà doanh nghiệp văn hóa Việt Nam phải thay đổi mạnh nhất. Trong nhiều năm, không ít công ty sống bằng sản xuất thuê, mua format hoặc cung cấp dịch vụ truyền thông; doanh thu có thể lớn nhưng giá trị tích lũy sau mỗi hợp đồng không nhiều. Khi doanh nghiệp thực sự sở hữu IP, mỗi sản phẩm thành công có thể trở thành một tài sản tiếp tục sinh lời qua nhiều năm.

Tại hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Đinh Bá Thành, Chủ tịch sáng lập DatVietVAC – một trong những công ty giải trí hàng đầu của Việt Nam, nhìn nhận nếu Việt Nam không có những “kỳ lân công nghiệp văn hóa” thì rất khó có một nền công nghiệp văn hóa đủ sức cạnh tranh toàn cầu.

Theo ông Thành, thành công của K-Culture không chỉ nằm ở nghệ sĩ, mà ở lớp doanh nghiệp có khả năng xây IP, quản trị nghệ sĩ, phát triển fandom và mở rộng chuỗi giá trị sang tiêu dùng, thời trang, du lịch và nhiều lĩnh vực khác.

“Kỳ lân” cần cả vốn, thị trường và năng lực xuất khẩu

Nếu sở hữu IP là điều kiện đầu tiên, điều kiện thứ hai là vốn. Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực khó tài trợ bằng mô hình tín dụng truyền thống bởi phần lớn giá trị nằm trong tài sản vô hình. Một kịch bản, nhân vật, bản quyền âm nhạc hoặc một cộng đồng người hâm mộ có thể rất giá trị nhưng không dễ thế chấp như nhà xưởng hay bất động sản.

TS. Huỳnh Thanh Điền, Đại học Nguyễn Tất Thành, nhận định một trong những điểm nghẽn lớn nhất của công nghiệp văn hóa Việt Nam là vốn chấp nhận rủi ro. Ông cho rằng Quỹ Văn hóa, Nghệ thuật nếu được thiết kế tốt không nên trở thành một kênh tín dụng thông thường mà phải vận hành như một thiết chế thị trường chuyên biệt, với Nhà nước đóng vai trò vốn mồi và khu vực tư nhân là lực lượng đầu tư chính.

Theo ông Thành, nếu vận hành đúng, quỹ có thể trở thành “đòn bẩy để công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế”.

Điều kiện thứ ba là quy mô doanh nghiệp. Nghị quyết 80 đặt mục tiêu rõ về việc hình thành các tập đoàn công nghiệp văn hóa bởi một sản phẩm đạt chuẩn quốc tế cần vốn, công nghệ, nhân lực, marketing và mạng lưới phân phối vượt xa khả năng của những ê-kíp nhỏ.

Sự tham gia của Vingroup và Sun Group trong thời gian gần đây cho thấy các tập đoàn lớn bắt đầu nhìn văn hóa như một lĩnh vực có khả năng tạo hệ sinh thái kinh tế.

Ngày 10/11/2025, Vingroup chính thức bổ sung văn hóa thành một trụ cột hoạt động và thành lập V-Culture Talents, V-Film và V-Spirit. Ngày 25/7/2026, Sun Group khởi công Sun Galaxy Complex tại Đà Nẵng với tổng mức đầu tư gần 10.750 tỷ đồng, trong đó có sân khấu - khán đài ngoài trời gần 20.000 chỗ…

Nhưng quy mô trong nước vẫn chưa đủ để tạo ra “kỳ lân”. Muốn đạt giá trị tỷ USD, doanh nghiệp văn hóa cuối cùng phải có khả năng xuất khẩu. Hàn Quốc năm 2025 đạt khoảng 14,9 tỷ USD xuất khẩu nội dung văn hóa; nếu cộng thêm các lĩnh vực được Hallyu hỗ trợ như thực phẩm và mỹ phẩm, tổng giá trị lên tới gần 38 tỷ USD. Việt Nam không cần sao chép K-pop, nhưng có thể học cách biến sản phẩm văn hóa thành cửa ngõ cho những ngành khác.

anh-trai-1792836930.png
Các concert quy mô ngày càng thu hút được đông đảo khán giả. (Ảnh: DatVietVAC)↵

Nỗ lực đưa V-pop ra ngoài thị trường trong nước cũng đã bắt đầu. Trong tháng 11/2026, DatVietVAC dự kiến đưa Concert Vũ Trụ “Say Hi” trở lại kinh đô giải trí thế giới - Las Vegas, Mỹ thông qua mô hình cấp quyền kinh doanh. Cùng thời gian này, concert Mắt Nhắm Mắt Mở của HIEUTHUHAI cũng được lên kế hoạch tổ chức tại Las Vegas.

Ngày 22/7/2026 tại TP.HCM, YeaH1 cùng iMe Entertainment Group và AlphaZ cũng đã công bố dự án V-Beyond Concert, với điểm đến đầu tiên dự kiến là Honda Center tại Anaheim, California, Mỹ vào ngày 21/11/2026.

Trước đó, YeaH1 và Sony Music Entertainment đã thiết lập hợp tác nhằm đưa nghệ sĩ Việt tới các sân khấu và bảng xếp hạng quốc tế. Đây mới chỉ là những bước thử nghiệm, nhưng nó cho thấy tư duy phát triển thị trường đã bắt đầu vượt ra ngoài biên giới.

Thực tế, không thể tạo ra một “kỳ lân công nghiệp văn hóa” bằng mệnh lệnh hành chính hay chỉ bằng những khoản đầu tư vào hạ tầng biểu diễn. Điều quyết định là khả năng hình thành những doanh nghiệp biết phát hiện, phát triển và sở hữu tài sản trí tuệ, đồng thời xây dựng mô hình kinh doanh đủ sức đưa sản phẩm văn hóa vượt khỏi thị trường nội địa. Trong cuộc chơi này, vốn, công nghệ và chính sách hỗ trợ là điều kiện cần, nhưng năng lực sáng tạo, quản trị IP và chinh phục khán giả mới quyết định sức sống của doanh nghiệp.

Nghị quyết đã mở ra định hướng, những tập đoàn lớn bắt đầu tham gia và các dự án đưa sản phẩm Việt ra thị trường quốc tế đang từng bước được triển khai. Tuy nhiên, để những tín hiệu ban đầu trở thành một ngành kinh tế có sức cạnh tranh, Việt Nam cần nhiều hơn những dự án riêng lẻ: đó phải là một hệ sinh thái có khả năng tạo ra IP mới, thương mại hóa trên nhiều lĩnh vực, tái đầu tư cho các thế hệ sáng tạo tiếp theo và có năng lực xuất khẩu IP đó ra thế giới.

“Kỳ lân công nghiệp văn hóa” vì thế nếu có xuất hiện sẽ phải là doanh nghiệp biết biến bản sắc thành sản phẩm, sản phẩm thành IP, IP thành hệ sinh thái và hệ sinh thái thành năng lực xuất khẩu.

Nghị quyết đã đặt mục tiêu, thị trường đang mở cửa và những doanh nghiệp đầu tiên đang thử sức. Từ đây, câu hỏi không còn là Việt Nam có đủ tài nguyên văn hóa hay không, mà là ai sẽ đủ năng lực tổ chức những tài nguyên ấy thành một ngành kinh tế quy mô lớn.

Đăng ký đặt báo