
Chiều 21/4, Quốc hội đã nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế quan trọng, bao gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế tiêu thụ đặc biệt. Nội dung sửa đổi lần này được kỳ vọng tạo thêm dư địa hỗ trợ khu vực hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, đồng thời đảm bảo sự công bằng và tính bền vững của chính sách tài khóa.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã trình bày tờ trình, nhấn mạnh mục tiêu điều chỉnh chính sách theo hướng thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các chủ thể có quy mô nhỏ. Các quy định liên quan đến thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp được thiết kế nhằm giảm áp lực tài chính, tạo điều kiện tích lũy nguồn lực, đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp.
Một điểm đáng chú ý trong dự thảo là không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu miễn thuế ngay trong luật. Thay vào đó, Chính phủ sẽ được giao thẩm quyền xác định các mức này. Theo cơ quan soạn thảo, cách tiếp cận này giúp cân đối giữa việc giảm thu ngân sách và việc hỗ trợ khu vực kinh doanh nhỏ ổn định hoạt động, góp phần duy trì tâm lý xã hội tích cực.
Tương tự, với thuế thu nhập doanh nghiệp, dự thảo bổ sung quy định về mức doanh thu được miễn thuế nhưng cũng không ấn định con số cụ thể trong luật. Việc trao quyền cho Chính phủ quy định chi tiết được cho là sẽ tăng tính linh hoạt trong điều hành chính sách tài khóa, phù hợp với các biến động kinh tế. Đây cũng là bước cụ thể hóa các chủ trương đã được nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương và quy định pháp luật hiện hành về tổ chức bộ máy nhà nước.
Không chỉ dừng ở các sắc thuế trực tiếp, dự thảo còn đề cập đến việc điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe điện chạy bằng pin. Chính sách này được xây dựng nhằm đồng bộ với mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường và hạn chế phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch trong bối cảnh giá năng lượng toàn cầu nhiều biến động. Theo đề xuất, thời gian áp dụng mức thuế ưu đãi đối với xe điện dưới 24 chỗ sẽ được kéo dài đến hết năm 2030.
Ở góc độ thẩm tra, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cơ bản đồng thuận với sự cần thiết ban hành luật sửa đổi. Tuy nhiên, cơ quan này cũng lưu ý một số nội dung cần làm rõ để đảm bảo tính minh bạch và khả thi. Trong đó, việc chưa đưa ra phương án cụ thể về điều chỉnh ngưỡng doanh thu chịu thuế khiến định hướng chính sách chưa thật sự rõ ràng, đồng thời gây khó khăn trong việc đánh giá tác động tới ngân sách nhà nước.
Ủy ban đề nghị Chính phủ cần bổ sung các kịch bản cụ thể, bao gồm cả việc tăng hay giảm ngưỡng doanh thu, đi kèm với phân tích định lượng rõ ràng. Những thông tin này sẽ là cơ sở quan trọng để Quốc hội xem xét, quyết định chính sách một cách thuyết phục và toàn diện hơn. Bên cạnh đó, việc rà soát tổng thể các luật thuế hiện hành cũng được khuyến nghị nhằm đảm bảo tính đồng bộ, tránh chồng chéo.
Một số ý kiến cho rằng việc không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu trong luật có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch. Trước đây, các mức này đã được thảo luận kỹ và quy định rõ trong luật, đồng thời giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyền điều chỉnh khi cần thiết. Do đó, đề xuất chuyển toàn bộ thẩm quyền sang Chính phủ cần được giải trình sâu hơn để tạo sự đồng thuận.
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, cũng có quan điểm đề nghị giữ nguyên cách tiếp cận cũ, tức là quy định rõ mức miễn thuế ngay trong luật nhằm đảm bảo tính rõ ràng, đồng thời vẫn duy trì cơ chế điều chỉnh linh hoạt thông qua cơ quan có thẩm quyền của Quốc hội.
Riêng với thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe điện, đa số ý kiến ủng hộ việc gia hạn chính sách ưu đãi, song nhấn mạnh cần cân nhắc kỹ về thời gian áp dụng để hài hòa lợi ích giữa các bên. Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị bổ sung đánh giá toàn diện về tác động của xe điện, không chỉ nêu ưu điểm mà cần chỉ ra cả những hạn chế, từ đó có cái nhìn khách quan hơn trong hoạch định chính sách.
Về hiệu lực thi hành, cơ bản các nội dung trong dự thảo nhận được sự đồng thuận. Tuy nhiên, một số quy định cụ thể vẫn cần được làm rõ thêm, đặc biệt là trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ pháp lý nặng hơn đối với người nộp thuế, nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng và tránh gây xáo trộn không cần thiết khi luật có hiệu lực.