
Tổng quát về dữ liệu đất đai
Để dễ hình dung, dữ liệu đất đai, phần lớn được chi ra làm 02 modul quản lý, gồm:
Dữ liệu thông tin địa lý (GIS) với các kiểu dữ liệu gồm: dữ liệu không gian (dạng raster như ảnh viễn thám, ảnh máy bay, bản đồ quét…; dạng vecter: thể hiện thông tin thông tin thuộc tính và tọa độ thể bằng các đối tượng điểm (point), đường (line, polyline), vùng (polygon) và chữ (text).
Dữ liệu thông tin quản lý: Được thực hiện trên phần mềm chuyên ngành (có thể liên kết trực tiếp với dữ liệu GIS hoặc gián tiếp thông qua sử dụng dữ liệu kết xuất từ dữ liệu GIS).
Trước đây, công tác quản lý nhà nước về đất đai, nông nghiệp – môi trường thuộc chức năng nhiệm vụ của 2 bộ: Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Bộ Nông nghiệp và PTNT (NN&PTNT), trong đó:
Cơ sở dữ liệu ngành TN&MT: Dữ liệu GIS sử dụng phần mềm MicroStation và dữ liệu thông tin quản lý là phần mềm chuyên dụng của ngành. Công việc chính chủ yếu là quản trị dữ liệu địa chính.
Cơ sở dữ liệu ngành NN&PTNT: Dữ liệu GIS sử dụng phần mềm Mapinfo và phần mềm chuyên dụng (DBR). Công việc chính là thực hiện công tác theo dõi Diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, quản lý quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp, công trình lâm sinh. Một số lĩnh vực chưa xây dựng cơ sở dữ liệu như: cây trồng hàng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy hải sản, công trình thủy lợi.…
Một số tồn tại hạn chế và vướng mắc trong quản lý đất đai và chuyên ngành nông nghiệp - môi trường liên quan đến đất đai thời gian qua
- Lĩnh vực quản lý rừng và đất lâm nghiệp: Một số dữ liệu đã xây dựng nhưng mức độ chính xác chưa cao (dữ liệu giao đất lâm nghiệp, theo dõi diễn biến rùng và đất lâm nghiệp…), nguyên nhân chủ yếu do trước đây khi thực hiện giao đất lâm nghiệp và cập nhật diễn biến rừng (theo Nghị định 02/NĐ-CP năm 1994, Nghị định 163/1999/NĐ-CP…) trang thiết bị lạc hậu, phương pháp đơn giản (sử dụng địa bàn cầm tay, thước dây và khoanh vẽ theo dốc đối diện, đo đếm diện tích trên lưới ô vuông, can vẽ bản đồ thủ công trên giấy bóng mờ…) dẫn đến sai số lớn, nhiều diện tích chồng lấn… Kết quả giao đất lâm nghiệp đã được bàn giao về ngành TN&MT quản lý, tuy nhiên đến nay nhiều địa phương chưa được cập nhật, chỉnh lý dữ liệu…
- Một số quy hoạch trước đây, có nơi đơn vị tư vấn triển khai tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu chính xác, đến nay thực thi pháp luật vướng mắc, điển hình như công tác rà soát quy hoạch 3 loại rừng (theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ), nhiều địa phương xảy ra tình trạng đất thổ cư, đất nông nghiệp và đất khác khi quy hoạch không được bóc tách, mà khoanh tất cả vào quy hoạch sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, nhất là quy hoạch rừng đặc dụng, phòng hộ; bênh cạnh đó, tình trạng nhiều diện tích đất trống nhưng thể hiện trên cơ sở dữ liệu là rừng tự nhiên (do công tác cập nhật biến động chưa được sâu sát) dẫn đến vướng pháp lý, không thể thực thi các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, gây khó khăn cho nhân dân…
- Đặc thù của quản lý đất đai cơ sở dữ liệu có dung lượng lưu trữ lớn (Big Data) trãi qua lịch sử nhiều năm, số liệu khổng lồ, nhiều thông tin, hồ sơ bị thất lạc, quyền và lợi ích trong quản lý, sử dụng đất nhiều nơi chanh chấp, dữ liệu rất nhiều không thể “tiễn cựu nghinh tân được” bỏ đi được, cần phải lưu trữ vĩnh viễn, phục vụ tra cứu, rà soát...

Những vướng mắc, hạn chế nêu trên đang là rào cản rất lớn để có thể xây dựng được một cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ, chính xác. Chúng ta đã có rất nhiều bài học kinh nghiệm từ thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trước đây, điển hình dự án Phát triển hệ thống quản lý thông tin ngành lâm nghiệp (viết tắt là FORMIS), giai đoạn 1 từ năm 2009-2012 và giai đoạn 2 đang thực hiện, mặc dù đầu tư rất lớn, tuy nhiên đến nay đưa vào sử dụng phục vụ quản lý nhà nước được. Theo góc nhìn của bản thân, nguyên nhân chủ yếu là trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu còn thiếu thực tiễn, hiểu biết sâu đặc thù trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên rừng, nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin của Việt Nam.
Nhiệm vụ “Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai” lần này: Cơ hội lớn và thách thức rất lớn, yêu cầu công việc đòi hỏi nhanh nhưng phải đúng, phải trúng để xây dựng được cơ sở dữ liệu vận hành đồng bộ, có tầm nhìn dài hạn
Một vấn đề hết sức băn khoăn là những văn bản pháp lý hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được ban hành trước thời điểm sáp nhập Bộ, Ngành, cụ thể Thông tư số 25/2024/TT-BTNMT, ngày 26/11/2024 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường về Quy định về quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (chưa có đề cập đến công tác quản dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp: dữ liệu rừng và đất lâm nghiệp, cây trồng, vật nuôi và nông nghiệp khác…).
Để phát huy có hiệu quả “chính quyền số”, không có gì hơn là phải tích hợp quản lý đất đai với quản lý chuyên ngành, bởi tài nguyên, tài sản và các đối tượng sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ với dữ liệu địa chính, theo đó cần thiết phải xây dựng một cơ sở dữ liệu dùng chung về quản lý đất đai theo hướng: “chỉ sử dụng duy nhất chung một phần mềm nền tảng (Platform) hệ thống bản đồ (hệ thống thông tin địa lý - GIS), và các phần mềm chuyên ngành liên kết mật thiết với nó”. Trong quá trình thực hiện phải hết sức lưu ý đến phần mềm nền tảng (Platform) hệ thống thông tin địa lý (GIS), tránh vướng mắc hoặc chi phí rất lớn về pháp lý bản quyền.
Ngày 21/10/2025, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 565/TB-VPCP, thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Phạm Hồng Hà tại cuộc họp về nhiệm vụ và giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Theo đó chậm nhất trong tháng 12/2025 phải lựa chọn được phần mềm nền tảng (Platform) và phần mềm chuyên dụng dùng chung để đưa vào vận hành. Vấn đề này, nếu đã chuẩn bị kỹ lưỡng các phầm mềm để lựa chọn thì chúng ta không có gì phải phân vân. Tuy nhiên, nếu chưa có phần mềm nền tảng (Platform) và phần mềm chuyên dụng dùng chung thì quả là một vấn đề khó lường ở phía trước: Chúng ta phải huy động nguồn lực, thời gian rất lớn để xây dựng và “làm sạch dữ liệu” nhưng sau đó lại vướng mắc hoặc bất cập thì sẽ rất lãng phí, phần mềm cơ sở dữ liệu đất đai nếu không phát huy được, sẽ đánh mất đi một “cơ hội vàng” trong việc xây dựng “siêu dữ liệu đất đai”.
Nhằm giải quyết tốt vấn đề này, việc xác định “yêu cầu người dùng” hết sức quan trọng, là nền tảng để lựa chọn, phát triển công nghệ và xây dựng phần mềm phù hợp. Để làm được điều đó cần những chuyên gia hàng đầu, đồng bộ về “công nghệ - chuyên môn và thực tiễn”; cần phân chia giai đoạn cho phù hợp để làm đến đâu “dữ liệu sạch đến đó” và không chồng lấn phải làm đi làm lại; cùng với đó, cần có sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao của các cấp các ngành, đặc biệt là vai trò của chính quyền cấp xã trong việc rà soát, đo đạc, thu thập số liệu, nhập dữ liệu lên hệ thống và khai thác vận hành một cách thông suốt, đơn giản, hiệu quả trong xử lý công việc hàng ngày liên quan đến đất đai./.
TS. Nguyễn Trọng Quyền - Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa