
Tăng trưởng xuất khẩu khả quan nhưng nhiều rào cản nổi lên
Bức tranh xuất khẩu nông sản Việt Nam trong năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi nhiều ngành hàng chủ lực tiếp tục tăng trưởng về sản lượng và kim ngạch. Tuy nhiên, đằng sau những con số lạc quan là hàng loạt sức ép mới đang xuất hiện, buộc doanh nghiệp phải thay đổi để thích ứng với môi trường thương mại quốc tế ngày càng khắt khe.
Tại Diễn đàn Xuất khẩu nông sản diễn ra ngày 10/6 tại TP.HCM, các chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng xuất khẩu nông sản hiện không còn là câu chuyện tăng sản lượng đơn thuần mà đang chuyển sang cuộc cạnh tranh về chất lượng, tiêu chuẩn và khả năng thích ứng với biến động thị trường.
Theo ông Phùng Văn Thành, Vụ Phát triển Thị trường nước ngoài thông tin, giai đoạn 2020-2025, thương mại Việt Nam duy trì đà tăng trưởng ổn định, trong đó nhóm nông, lâm, thủy sản đóng vai trò quan trọng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của lĩnh vực này vượt mốc 70 tỷ USD. Nhiều sản phẩm như gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, rau quả, tôm và cá tra đã xây dựng được vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, ông Thành cho rằng xuất khẩu nông sản vẫn đang phụ thuộc khá lớn vào một số thị trường chủ lực. Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro khi chính sách nhập khẩu thay đổi hoặc nhu cầu tiêu dùng suy giảm. Bên cạnh đó, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm tươi và thô vẫn ở mức cao, trong khi năng lực chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng.
Những khó khăn này đang thể hiện rõ nhất ở ngành rau quả, lĩnh vực được kỳ vọng sẽ trở thành động lực tăng trưởng của nông nghiệp Việt Nam trong năm nay. Trong bốn tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt khoảng 2,06 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Riêng thị trường Trung Quốc mang về hơn 1 tỷ USD và tiếp tục chiếm hơn một nửa tổng giá trị xuất khẩu của ngành.
Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT Vina T&T, việc ký kết các nghị định thư xuất khẩu đối với bưởi và chanh đã mở thêm dư địa tăng trưởng cho nông sản Việt Nam. Cùng với đó, xu hướng chuyển từ xuất khẩu tươi sang các sản phẩm đông lạnh, sấy khô hoặc nước quả cô đặc đang tạo thêm động lực để ngành hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD trong năm 2026.
Tuy nhiên, đà tăng trưởng này vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Giá cước vận tải quốc tế hiện cao gấp 2-3 lần so với giai đoạn 2024-2025 do những biến động địa chính trị toàn cầu. Hệ thống kho lạnh chưa đáp ứng nhu cầu tại nhiều vùng nguyên liệu khiến chi phí bảo quản tăng lên, đồng thời làm gia tăng tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch.
Đáng chú ý, nhiều sản phẩm như thanh long, chanh leo và ớt liên tục nhận cảnh báo liên quan đến an toàn thực phẩm tại các thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Các hàng rào kỹ thuật và quy định phi thuế quan ngày càng dày đặc đang trở thành thách thức lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Đa dạng hóa thị trường và nâng giá trị gia tăng là hướng đi tất yếu
Không chỉ rau quả, những áp lực từ thị trường quốc tế cũng đang tác động mạnh đến các ngành hàng chủ lực khác như thủy sản và lúa gạo. Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết xuất khẩu thủy sản trong bốn tháng đầu năm đạt khoảng 3,7 tỷ USD, tăng gần 15% so với cùng kỳ. Dù vậy, doanh nghiệp trong ngành vẫn đang phải đối mặt với khoảng 15 nhóm khó khăn khác nhau, từ thiếu nguyên liệu, thiếu lao động cho đến các quy định ngày càng nghiêm ngặt liên quan đến chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Theo ông Nam, ngành thủy sản vẫn có khả năng đạt mục tiêu xuất khẩu trên 12 tỷ USD trong năm nay nếu được hỗ trợ kịp thời về thể chế, tín dụng và logistics. Hiệp hội cũng kiến nghị sớm điều chỉnh các quy định liên quan đến chứng nhận nguồn gốc hải sản để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu sang EU và Mỹ.
Ở lĩnh vực lúa gạo, xuất khẩu vẫn duy trì sản lượng cao với khoảng 3,33 triệu tấn trong bốn tháng đầu năm, mang về 1,5 tỷ USD. Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Intimex, cho biết giá gạo xuất khẩu bình quân hiện chỉ còn khoảng 468 USD/tấn, giảm gần 10% so với năm 2025 và thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây.
Theo ông Nam, khả năng điều tiết thị trường còn hạn chế là một trong những điểm yếu lớn của ngành gạo. Chỉ cần xuất hiện thông tin về việc Philippines giảm nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp lập tức đẩy mạnh bán hàng để duy trì thị phần, khiến giá xuất khẩu sụt giảm nhanh chóng.
Riêng với ngành sầu riêng, áp lực đang đến từ cả chất lượng sản phẩm lẫn năng lực kiểm nghiệm. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện cho biết nhiều thị trường nhập khẩu đã tăng cường kiểm soát dư lượng cadimi, trong khi đất canh tác tại một số khu vực bị ảnh hưởng bởi quá trình sản xuất kéo dài nhiều năm. Bên cạnh đó, tình trạng quá tải tại các phòng kiểm nghiệm đang làm kéo dài thời gian chờ cấp chứng nhận xuất khẩu. Theo phản ánh của doanh nghiệp, nhiều đơn vị không đủ năng lực tiếp nhận mẫu hoặc buộc phải từ chối kiểm nghiệm do lượng hồ sơ tăng mạnh.
Trước thực tế này, các chuyên gia cho rằng nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu, xây dựng chuỗi cung ứng bền vững và đa dạng hóa thị trường là hướng đi bắt buộc. Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Á, Đông Âu, châu Phi và châu Đại Dương đang được xem là những khu vực còn nhiều dư địa cho nông sản Việt Nam mở rộng thị phần.
Ông Vũ Cường - Tham tán Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam tại Nhật Bản, nhận định Nhật Bản vẫn là thị trường giàu tiềm năng khi Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 4,7% tổng kim ngạch nhập khẩu nông sản của nước này. Trong khi đó, ông Bùi Hải Nam cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi tư duy từ “bán cái mình có” sang “sản xuất những gì thị trường cần”, tập trung vào chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu thay vì cạnh tranh bằng giá.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 là vượt 74,2 tỷ USD. Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành nông nghiệp cần đồng thời giải quyết các điểm nghẽn về logistics, nâng cao năng lực chế biến, mở rộng thị trường xuất khẩu và xây dựng chuỗi giá trị có khả năng thích ứng với những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu.