
Doanh nghiệp chăn nuôi cần rà soát hợp đồng, tận dụng nhóm hàng được miễn trừ
Theo tổng hợp của Văn phòng SPS Việt Nam, trong số 58 thông báo về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) được các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ban hành từ ngày 1-15/10/2026, thông báo G/SPS/N/PHL/545 của Philippines thu hút sự chú ý khi đề cập đến việc tạm ngừng nhập khẩu một số động vật và sản phẩm có nguy cơ cao mắc bệnh lở mồm long móng từ 23 quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Biện pháp này được Philippines triển khai từ ngày 19/9/2026, trước khi thông báo chính thức tới WTO vào ngày 7/10. Mặc dù Hiệp định SPS cho phép áp dụng trình tự thông báo như vậy đối với các biện pháp khẩn cấp, khoảng thời gian chênh lệch 18 ngày vẫn có thể gây ra những xáo trộn đối với doanh nghiệp đã ký hợp đồng hoặc đang vận chuyển hàng hóa sang thị trường này.
Theo quy định của Philippines, danh mục tạm cấm bao gồm thịt cơ, ruột, mỡ, móng, sừng động vật; lợn, bò, hươu, nai sống và tinh dịch của các loài này. Những lô hàng thuộc diện cấm có thể bị đình chỉ nhập khẩu và tịch thu tại cửa khẩu, làm gia tăng nguy cơ thiệt hại về chi phí vận chuyển, bảo quản và thực hiện hợp đồng.
Đáng lưu ý, động thái trên diễn ra khi xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam đang ghi nhận kết quả tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong các nhóm hàng nông, lâm, thủy sản được đề cập trong báo cáo.
Tuy nhiên, lệnh cấm không áp dụng với toàn bộ sản phẩm có nguồn gốc động vật. Philippines vẫn cho phép nhập khẩu một số mặt hàng nếu đáp ứng yêu cầu xử lý và kiểm dịch, gồm sữa và sản phẩm sữa được xử lý ở nhiệt độ siêu cao (UHT); thịt được xử lý nhiệt trong bao bì kín với giá trị tiệt trùng F₀ từ 3 phút trở lên; bột protein, gelatin, da xử lý bằng vôi, da ngâm axit và da thuộc bán thành phẩm.
Đối với sản phẩm thịt đã qua xử lý nhiệt, doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến chỉ số F₀, thể hiện hiệu quả tiệt trùng thông qua thời gian xử lý tương đương ở nhiệt độ 121°C. Do đó, việc xác nhận sản phẩm đã qua chế biến là chưa đủ; doanh nghiệp còn cần hồ sơ kỹ thuật chứng minh quy trình xử lý đáp ứng yêu cầu.
Hàng loạt thị trường cập nhật tiêu chuẩn, gia tăng yêu cầu tuân thủ
Đối với ngành rau quả, kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7,345 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, Canada đang lấy ý kiến đối với hai dự thảo liên quan đến giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên một số loại trái cây.
Cụ thể, thông báo G/SPS/N/CAN/1650 đề xuất mức dư lượng tối đa đối với hoạt chất Cyprodinil là 4,0 ppm trên quả na và 2,0 ppm đối với nhóm trái cây nhiệt đới, cận nhiệt đới có quả nhỏ, vỏ không ăn được. Với thông báo G/SPS/N/CAN/1649, Canada đề xuất mức Fludioxonil là 20 ppm đối với quả na và nhóm trái cây nêu trên, cùng mức 4,0 ppm đối với chuối. Các sản phẩm thuộc nhóm trái cây mã 24A có nhiều mặt hàng Việt Nam xuất khẩu như vải, nhãn, chôm chôm và chanh leo. Hạn góp ý đối với cả hai dự thảo là ngày 13/12/2026.
Ở lĩnh vực thủy sản, kim ngạch xuất khẩu trong 9 tháng đạt 9,172 tỷ USD, tăng 12,3%. Tại Ai Cập, dự thảo Tiêu chuẩn ES 3495 đưa ra các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và phương pháp thử nghiệm đối với cá đông lạnh nhanh dạng thanh, miếng và phi lê tẩm bột hoặc phủ bột nhào, trên cơ sở Tiêu chuẩn Codex CXS 166-1989.
Theo Nghị định số 209/2026, Ai Cập cũng dành thời gian chuyển tiếp 6 tháng để nhà sản xuất và nhập khẩu đáp ứng Tiêu chuẩn ES 804 đối với cá ngừ, cá ngừ vằn đóng hộp và Tiêu chuẩn ES 1725 đối với cá muối. Hai tiêu chuẩn này tương ứng với Codex CXS 70-1981 và các yêu cầu liên quan. Hạn gửi ý kiến đối với những thông báo của Ai Cập là ngày 6/12/2026.
Trong khu vực, Campuchia đã ban hành quy định về kiểm soát, kiểm tra chất lượng và an toàn đối với cá cùng các sản phẩm thủy sản, áp dụng cho cả hoạt động xuất nhập khẩu. Những yêu cầu trọng tâm gồm bảo đảm vệ sinh, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng thuốc thú y, hóa chất, chất gây ô nhiễm và áp dụng hệ thống phân tích mối nguy, kiểm soát điểm tới hạn (HACCP). Nước này đồng thời ban hành Luật Thủy sản mới.
Đối với hàng hóa có nguồn gốc thực vật, Thổ Nhĩ Kỳ quy định quy trình hun trùng, khử trùng đối với thực vật và sản phẩm thực vật nhập khẩu, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Hàng nhập khẩu phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật phù hợp với tiêu chuẩn ISPM 12. Các biện pháp xử lý tại nước xuất khẩu cần được ghi đầy đủ trong mục “Xử lý khử trùng và/hoặc khử khuẩn”, kể cả trường hợp biện pháp hun trùng không xuất phát từ yêu cầu của phía Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh hương liệu thực phẩm phải hoàn thành việc tuân thủ quy định liên quan chậm nhất ngày 31/12/2026.
Trước diễn biến này, Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp chủ động nghiên cứu, gửi ý kiến góp ý bằng tiếng Việt và tiếng Anh trước thời hạn của từng thông báo ít nhất 3 ngày. Theo đó, hạn gửi ý kiến đối với hai dự thảo của Canada là ngày 10/12/2026, còn các thông báo của Ai Cập là ngày 3/12/2026.
Áp lực tuân thủ ngày càng rõ nét khi từ đầu năm đến ngày 15/9/2026, các thành viên WTO đã ban hành 822 thông báo SPS, gồm 509 dự thảo và 313 quy định có hiệu lực, đến từ 166 thành viên. Riêng nửa đầu tháng 10, Việt Nam tiếp tục ghi nhận thêm 58 thông báo mới.
Trong bối cảnh quy định thương mại liên tục thay đổi, theo dõi thông báo SPS, rà soát quy trình sản xuất và chuẩn hóa hồ sơ không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro trước mắt mà còn tạo nền tảng duy trì năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu trong dài hạn.